Giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

Giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Nho Quan, Ninh Bình, tập trung vào phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

110
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ tập trung vào giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Mục tiêu chính là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo, đánh giá thực trạng nghèo đa chiều, phân tích các yếu tố ảnh hưởng, và đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững. Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Nho Quan.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Nghèo đói là rào cản lớn đối với sự phát triển con người và cộng đồng. Phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập đã bộc lộ nhiều hạn chế, không phản ánh đầy đủ các khía cạnh của nghèo đói. Nghèo đa chiều ra đời nhằm khắc phục những hạn chế này, xem xét nghèo không chỉ về thu nhập mà còn về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở. Tại huyện Nho Quan, tỉ lệ hộ nghèo vẫn cao, đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu số, đòi hỏi các giải pháp giảm nghèo bền vững và hiệu quả.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều, đánh giá thực trạng nghèo tại huyện Nho Quan, phân tích các yếu tố ảnh hưởng, và đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững. Nghiên cứu tập trung vào các vấn đề liên quan đến nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo đa chiềugiảm nghèo bền vững, bao gồm các khái niệm về nghèo, các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo, và kinh nghiệm giảm nghèo trên thế giới và tại Việt Nam. Nghèo đa chiều được xem xét qua các khía cạnh như giáo dục, y tế, nhà ở, và điều kiện sống.

2.1. Lý luận về nghèo đa chiều

Nghèo đa chiều không chỉ dựa trên thu nhập mà còn xem xét các khía cạnh khác như tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở, và điều kiện sống. Phương pháp này giúp đánh giá toàn diện hơn về tình trạng nghèo đói, từ đó đề xuất các chính sách giảm nghèo hiệu quả hơn. Nghèo đa chiều được đo lường qua các chỉ số như tỷ lệ trẻ em đi học, tiếp cận dịch vụ y tế, chất lượng nhà ở, và điều kiện vệ sinh.

2.2. Kinh nghiệm giảm nghèo trên thế giới và Việt Nam

Luận văn phân tích các kinh nghiệm giảm nghèo từ các quốc gia và địa phương khác, từ đó rút ra bài học cho huyện Nho Quan. Các chính sách giảm nghèo hiệu quả thường tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng giáo dục và y tế, và hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương.

III. Thực trạng nghèo đa chiều tại huyện Nho Quan

Luận văn đánh giá thực trạng nghèo đa chiều tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, qua các chỉ số như giáo dục, y tế, nhà ở, và điều kiện sống. Tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Nho Quan vẫn cao, đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu số, với nhiều thiếu hụt về dịch vụ xã hội cơ bản.

3.1. Thực trạng nghèo đa chiều

Tại huyện Nho Quan, tỷ lệ hộ nghèo là 13.4%, cao hơn mức bình quân của tỉnh Ninh Bình. Các chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản như nhà vệ sinh hợp vệ sinh (33.5%) và chất lượng nhà ở (32.3%) là những vấn đề nghiêm trọng. Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em đi học và tiếp cận dịch vụ y tế được cải thiện đáng kể.

3.2. Nguyên nhân nghèo đa chiều

Nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đa chiều tại huyện Nho Quan bao gồm thiếu vốn sản xuất, thiếu phương tiện sản xuất, và trình độ học vấn thấp. Các hộ dân tộc thiểu số có mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cao hơn so với hộ người Kinh.

IV. Giải pháp giảm nghèo bền vững

Luận văn đề xuất các giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Nho Quan, bao gồm các giải pháp chung, giải pháp cho các nhóm hộ nghèo, và giải pháp cải thiện các chiều nghèo cụ thể.

4.1. Giải pháp chung

Các giải pháp chung bao gồm cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng giáo dục và y tế, và hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương. Cần tăng cường các chính sách hỗ trợ vốn và phương tiện sản xuất cho các hộ nghèo.

4.2. Giải pháp cho các nhóm hộ nghèo

Đối với các hộ nghèo, cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể như đào tạo nghề, hỗ trợ vốn sản xuất, và cải thiện điều kiện sống. Đặc biệt, cần chú trọng hỗ trợ các hộ dân tộc thiểu số để giảm thiểu sự chênh lệch về mức sống.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều 1. Lý luận về nghèo 1. Khái niệm nghèo Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo, thường được nhắc đến là “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”.

“Theo nghĩa tuyệt đối, nghèo khổ là một trạng thái mà các các nhân thiếu những nguồn lực thiết yếu để có thể tồn tại”. “Theo nghĩa tương đối, là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương xem xét”. Những định nghĩa về nghèo đói được thay đổi nhiều lần theo thời gian và không gian khác nhau. Bởi ranh giới của nghèo đói là không được hưởng hoặc được hưởng rất ít và không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người [9].

Do vậy để đánh giá đúng mức độ của nghèo đói, thế giới thường dùng khái niệm “nghèo khổ” và nhận định nghèo khổ theo 4 khía cạnh sau [25]: - Về thời gian: phần lớn người nghèo khổ là những người sống dưới mức “chuẩn” trong suốt một thời gian dài để phân biệt với số người nghèo khổ “tình thế” như những người thất nghiệp, hoặc do khủng hoảng kinh tế, thiên tai, chiến tranh, tệ nạn xã hội, rủi ro. - Về không gian: về mặt này thì nghèo đói diễn ra chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi, nơi có nhiều người sinh sống. - Về giới: theo thống kê thì những người nghèo đói là phụ nữ đông hơn là nam giới. Trong những hộ nghèo nhất thì đa phần là do người phụ nữ là chủ hộ hay chủ gia đình, còn trong những hộ nghèo đó do người đàn ông làm chủ hộ thì người phụ nữ lại khổ hơn nam giới.

- Về môi trường: đối với những nước ở vùng sinh thái khắc nghiệt thì tỷ lệ người nghèo khá đông, ở những nước này tình trạng nghèo đói và sự xuống cấp về môi trường sinh thái ngày một trầm trọng thêm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chưa hề có sự thay đổi, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện đang được các quốc gia thừa nhận; Theo Báo cáo của Liên hợp quốc: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.

Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [35]. Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được xã hội thừa nhận”[35]. Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể và được nghiên cứu ở mức độ cá nhân và cộng đồng. Nghèo, đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.

Đó là những hộ thiếu ăn từ 1 đến 2 tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng. Đói là thang thấp nhất của nghèo, đói thuần túy là đói ăn, đói nằm trọn trong phạm trù kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hóa, thuộc phạm trù văn hóa tinh thần [4]. Đói cũng có hai dạng là đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt): - Đói kinh niên là một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro tại thời điểm đang xét. - Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.

Qua đây có thể thấy được các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 - Không được hưởng những nhu cầu cơ bản nhất ở mức độ tối thiểu dành cho con người. - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng. Chuẩn mực xác định nghèo đói a) Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD.

Phương pháp PPP (purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD [25]. Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.000 USD/người/năm là nước giàu.000 USD/người/năm là nước khá giàu.000 USD/ngươi/năm là nước trung bình. + Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo. + Dưới 500 USD/người/năm là nước cực nghèo.

Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau: + Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0. + Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày. + Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày. + Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày.

+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày. Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn của riêng nước mình thông thường thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng thế giới đưa ra. Ví dụ như Mỹ đưa ra chuẩn nghèo là mức thu nhập dưới 16.000 Kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia đình 4 người) trong một năm tương đương với 11,1 USD/ngày/người. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 Nhưng cần thấy rằng, ngoài thu nhập nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội, sức khỏe, trình độ… Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc gia bình quân, UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người HDI bao gồm hệ thống 3 chỉ tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn và thu nhập bình quân đầu người trong năm.

Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan b) Chuẩn mực xác định nghèo đói ở Việt Nam Bảng 1. Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) Chuẩn nghèo qua các Phân loại người Mức thu nhập bình giai đoạn nghèo quân/người/tháng Đói (KV nông thôn) Dưới 8Kg 1993 - 1995 (Mức thu Đói (KV thành thị) Dưới 13Kg nhập bình quân quy ra gạo) Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15Kg Nghèo (KV thành thị) Dưới 20Kg Đói (tính cho mọi khu vực) Dưới 13Kg (45.000 đồng) Nghèo (KV nông thôn, miền 1996 - 2000 (Mức thunúi, hải đảo) Dưới 15Kg (55.000 đồng) nhập quy ra gạo tương đương với số tiền) Nghèo (KV nông thôn, đồng Dưới 20Kg (70.000 đồng) bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 25Kg (90.000 đồng) Nghèo (KV nông thôn, miền Dưới 80.000 đồng núi, hải đảo) 2001 - 2005 (mức thu Nghèo (KV nông thôn, đồng nhập tính bằng tiền) bằng trung du) Dưới 100.000 đồng Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng tính bằng tiền) Nghèo (KV thành thị) Dưới 260.000 đồng Nghèo (KV nông thôn) Dưới 400.000 đồng tính bằng tiền) Cận nghèo (KV nông thôn) 401.000 đồng Cận nghèo (KV thành thị) 501.000 đồng Nghèo (KV nông thôn) Dưới 700.000 đồng tính bằng tiền) Cận nghèo (KV nông thôn) Trên 700.000 đồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 Chuẩn nghèo qua các Phân loại người Mức thu nhập bình giai đoạn nghèo quân/người/tháng Cận nghèo (KV thành thị) Trên 900.000 đồng Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH (2015) [7]. Phương pháp chuẩn nghèo này đã được đánh giá phù hợp với mức sống và thu nhập của dân cư nói chung, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo nhất, đảm bảo được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu dự kiến và đáp ứng được yêu cầu từng bước tiếp cận và hội nhập quốc tế. * Tiêu chí xác định chuẩn xã nghèo: Năm 2002, Bộ Thương binh và xã hội có Quyết định số 587/2002/QĐ-BLĐTBXH quy định xã nghèo (ngoài chương trình 135) là xã có đầy đủ tiêu chí sau [4]: Có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.

Chưa có đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu, cụ thể như sau: + Dưới 30% số hộ được sử dụng nước sạch. + Dưới 50% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt. + Chưa có đường ô tô tới trung tâm xã, ô tô không đi lại được cả năm. + Số phòng học mới đáp ứng được 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng tạm bằng tranh, tre, nứa, lá.

+ Chưa có trạm y tế, hoặc có nhưng là nhà tạm. + Chưa có chợ hoặc chợ tạm. Lý luận về nghèo đa chiều 1. Khái niệm nghèo đa chiều Khái niệm nghèo về tiền thường được áp dụng trong nghiên cứu về đói nghèo trên thế giới.

Tuy nhiên, tình trạng nghèo không chỉ được đo lường bằng chi tiêu hay thu nhập, mà còn bằng các chỉ báo về mức sống chỉ ra phúc lợi kinh tế - xã hội mà hộ gia đình có được. Mặc dù vậy, việc chọn lựa các chỉ báo phù hợp để đo lường nghèo đa chiều vẫn còn chưa rõ ràng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Nho Quan, Ninh Bình" tập trung vào việc đề xuất các chiến lược và biện pháp cụ thể nhằm giảm nghèo một cách bền vững, dựa trên tiêu chí nghèo đa chiều. Nội dung chính bao gồm phân tích thực trạng nghèo đói tại địa phương, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, và đề xuất giải pháp toàn diện từ kinh tế, xã hội đến môi trường. Tài liệu này mang lại lợi ích cho độc giả bằng cách cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách tiếp cận đa chiều trong công tác giảm nghèo, đồng thời gợi ý các bước thực tiễn để áp dụng tại các địa phương khác.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề kinh tế và quản lý, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn văn thạc sĩ kinh tế hoàn thiện công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình tại tập đoàn nam cường, nghiên cứu về quản lý chi phí trong các dự án xây dựng. Ngoài ra, Luận văn tăng cường công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại chi cục thuế thành phố phủ lý tỉnh hà nam cung cấp góc nhìn về quản lý thuế và doanh nghiệp. Cuối cùng, Luận văn phân tích cầu và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm dầu mỡ nhờn trên thị trường hà nội của công ty tnhh dầu mỡ nhờn hà nội đến năm 20 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chiến lược thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.