Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng giá trị nghề của học sinh trung học phổ thông. Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ TRONG SỰ CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Sơ lƣợc các nghiên cứu về định hƣớng giá trị 1. Nghiên cứu về giá trị và định hƣớng giá trị Hiện nay, vấn đề giá trị, định hướng giá trị, trong đó có định hướng giá trị nghề nghiệp và vấn đề dự định chọn nghề của học sinh THPT đang là vấn đề mang tính thời sự và được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu về giá trị và định hƣớng giá trị trên thế giới Trong tâm lý học,vấn đề giá trị cuả cá nhân và xã hội, ngay từ khi chuyên ngành khoa học này ra đời đã chiếm một vị trí quan trọng mà thuật ngữ của Wundt, là đối tượng “ cao cấp” của tâm lý học.Spranger là những nhà tâm lý thuộc trường phái tâm lý học mô tả, giảng giải, song họ lại có quan điểm khác nhau về vấn đề giá trị.Dilthey những cảm xúc, tình cảm chứa đựng những biểu hiện nhân cách của giá trị là nội dung của đời sống tinh thần. Ông cho rằng, đối với chúng ta, chỉ có những cái được trải nghiệm cảm xúc mới có giá trị, giá trị không tách khỏi tình cảm[21].
Phê phán quan điểm này, E.Spranger nhấn mạnh rằng, nội dung đời sống tâm hồn của con người không thể đơn giản hóa thành các giá trị mnag tính chủ quan, được xác định như những công cụ điều chỉnh cảm xúc. Theo ông, tâm hồn của con người phản ánh cả những giá trị mang tính khách quan- “những giá trị xuất hiện trong đời sống lịch sử, về mặt bản chất và ý nghĩa, nó nằm ngoài đời sống cá nhân, và được chúng ta gọi là tinh thần, đời sống tinh thần hay văn hóa mang tính khách quan”. Như vậy phạm trù nhân cách, trong tâm lý học mô tả gồm hai khía cạnh, cả những đánh giá chủ quan, chuẩn mực và những hình dung về sự tồn tại trong ý thức xã hội [21]. Trường phái tâm lý học Úc mà đại diện là A.Kreybig lại cho rằng giá trị được hiểu là hiện tượng hoàn toàn mang tính chủ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ehrenfels, giá trị của đối tượng được xác định bởi mong muốn có nó, mà mong muốn này lại được xác định bằng khả năng đạt được sự thỏa mãn.
Sự sắp xếp các giá tri, do đó được xây dựng trên cớ sở năng lực của đối tượng mang lại sự hài lòng hay không hài lòng.Meinong chuyển khái niệm giá trị thành khẳ năng trải nghiệm “cảm xúc giá trị” chủ quan nào đó. Theo ông giá trị được gán cho một đối tượng bất kỳ nào đó, bởi lẽ là có “một người nào đó mà giá trị là giá trị”. Cũng trong nghĩa này ông đã sử dụng khái niệm “giá trị nhân cách”, nghĩa là giá trị “đối với ai đó”[ 21]. Trong quan niệm các nhà tâm lý học hành vi, giá trị nằm ngoài phạm vi nghiên cứu khoa họa về bản chất con người.
Đối với họ “đạo đức, luân lý và giá trị- chẳng qua chỉ là kết quả học hỏi liên từ xã hội”. Hành vi của con người theo chủ nghĩa hành vi cổ điển được coi là tập hợp các phản ứng, mà sự thể hiện của nó được xác định bởi sức mạnh của củng cố kích thích từ môi trường bên ngoài. Tuy nhiên, để đặc trưng cho sức mạnh và xu hướng phản ứng của con người, E.Tolman đã đước sử dụng các khái niệm về giá trị. Khái niệm giá trị được ông định nghĩa như sức hấp dẫn của khách thể mục tiêu cùng với nhu cầu xác đinh sự cần thiêt của mục tiêu.Rotter trong lý thuyết học hỏi xã hội của mình sử dụng khái niệm “giá trị củng cố” và được hiểu là mức độ mà một người ưa thích củng cố này hay củng cố khác khi xác suất nhận được như nhau.
Cùng với “giá trị củng cố”, hành vi của con người còn được xác định bởi “giá trị nhu cầu”. Giá trị này là giá trị trung bình của tập hợp các củng cố có liên quan đến các phạm trù nhu cầu cơ bản. Giá trị mong đợi của củng cố phụ thuộc vào đánh giá chủ quan tình hình xã hội bên ngoài [21]. Phân tâm học của Freud tập trung chú ý vào các yếu tố sinh học bên trong của sự phát triển nhân cách.
Phân tâm học đặt các ham muốn bản năng vô thức (Id) là cơ sở hành vi của hành vi của con người. Theo Freud, “hiển nhiên “Cái ấy” không biết đến giá trị, thiện và ác, đạo đức”. Song lý thuyết Freud dù sao cũng hàm ý sự điều chỉnh giá trị - chuẩn mực nhất định về hành vi của con người. “Siêu tôi” của Freud về bản chất là nơi lưu trữ các quy định đạo đức vô thức lẫn các quy định đạo đức được xã hội thiết lập, những giá trị đạo đức và chuẩn mực hành vi.
Freud trong các công trình của mình chỉ ra ba chức năng của 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Siêu tôi: lương tâm, tự quan sát và hình thành lý tưởng, theo quan điểm của ông, nhiệm vụ của lương tâm là kiềm chế, cấm đoán hoạt động vô thức; nhiệm vụ của vô thức là đánh giá hoạt động trên cơ sở và nhu cầu; nhiệm vụ của Cái tôi là tự quan sát. Sự hình thành lý tưởng liên quan đến sự phát triển của cái Siêu tôi được tác động bởi các yếu tố xã hội. Khái niệm trung tâm trong lý thuyết nhân cách của Carl Roger người đại diện cho trường phái tâm lý học nhân văn là “tự thân” được ông định nghĩa là “một mô hình khái niệm có tổ chức, cơ động, nhưng gián tiếp trong việc tri giác các đặc điểm và các mối quan hệ của “Cái tôi”, hoặc chính bản thân mình, và bên cạnh đó là hệ thống giá trị áp dụng cho khái niệm này”. Theo quan niệm củ ông cấu trúc của “tự thân” bao gồm cả những giá trị mà “có thể trực tiếp trải nghiệm” lẫn những giá trị có liên quan và “cảm giác bên trong” mà con người diễn giải nhầm lẫn và coi nó như là những giá trị của mình.
Theo Rogers chính cơ thể cung cấp dữ liệu để hình thành nên những phán xét về giá trị. Ông tin tưởng rằng cả các giá trị bên trong và bên ngoài được thành lập hoặc là được tiếp nhân, nếu như được cảm nhận bằng “cơ chế sinh lý” như là những giá trị đảm bảo cho sự an toàn và củng cố cơ thể. Chính trên cở sở này hình thành nên các giá trị xã hội được rút ra từ nền văn hóa. Tuy nhiên Rogers vẫn nhấn mạnh sự cần thiết ý thức các trải nghiệm xuất hiện như là nền tảng của các ý tưởng giá trị.
Theo Maslow, sự lựa chọn các giá trị bậc cao của một người do chính họ xác định, mà không phải do lực lượng thần thánh hoặc lực lượng nào khác nằm ngoài bản thân họ. Khi có sự lựa chọn tự do con người tự mình một cách “bản năng” lựa chọn cái thực sự, mà không phải cái giả dối, điều thiện mà không phải là điều ác”. Khi nói về tính tự nhiên, tính hiển nhiên của các giá trị tâm lý bên trong, Maslow nhấn mạnh, tuy nhiên “bất kỳ xu hướng bản năng nào của con người cũng yếu hơn nhiều so với sức mạnh của nền văn minh”. Nhưng ông cũng như Carl Rogers nhìn thấy vai trò “quan trong” sống còn của các nhà tâm lý học hiện thực hóa, “thức tỉnh” các giá trị bên trong của con người.
Nhóm giá tri định danh là những mong muốn mà cá nhân muốn đạt được trong cuộc sống. Đây là những mục tiêu mà một người muốn đạt được trong cuộc đời mình. Những giá trị này khác nhau giữa các nhóm người khác nhau 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong nền văn hóa khác nhau. Nó gồm 18 giá trị: Tình hữu nghị, tình yêu, được tôn trọng, hạnh phúc, cái đẹp, công bằng, độc lập, được thừa nhận xã hộ, tự do, lạc quan, gia đình an toàn, quốc gia an toàn, nhạy cảm , thế giới tươi đẹp, thế giới hòa bình, cuộc sống tiện nghi, cuộc sống lạc quan [ 21].
Tâm lý hoạt động có cách tiếp cận tương tự với các nhà tâm lý học nhân văn phương tây.Lomov có những giải thích khác nhau về khái niệm “nhân cách”, song các nhà tâm lý học hoạt động đều đặt giá trị xu hướng lên hàng đầu. Xu hướng như thuộc tính tổng hợp và xác định toàn bộ tài sản tâm lý của nhân cách đã được phân tích theo các cách khác nhau trong các công trình nghiên cứu của Rubinstein, Leontiev, B.Ananiev, Uznadeze, Bozhovich, B.Lomov xác định xu hướng như “mối quan hệ giữa cái mà nhân cách nhận được và tiếp nhận từ xã hội (với nghĩa là cả các giá trị vật chất và tinh thần) với cái mà nhân cách mang lại cho xã hội, làm cho xã hội phát triển”. Như vậy trong xu hướng thể hiện các giá trị chủ quan của nhân cách với các khía cạnh khác nhau của thực tại. Nhấn mạnh đặc trưng tâm lý của các giá trị với tư cách là đối tượng xu hướng.Tugarinov sủ dụng khái niệm “định hướng giá trị”.
Định hướng giá trị được định nghĩa như xu hướng của nhân cách đói với giá trị nghề nào đó. Tóm lại, các công trình nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị ở đây đã chỉ ra được những khác biệt trong thang giá trị của thanh niên, xây dựng bộ dụng cụ để đo đạc và kiểm chứng cho nghiên cứu thực tế. Ngoài ra các công trình nghiên cứu còn được ứng dụng vào trong các trường học và cộng đồng dân cư. Các nghiên cứu về giá trị và định hƣớng giá trị ở Việt Nam Vấn đề giá trị cũng đã thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau tại Việt Nam.
Đề tài “Thực trạng gia đình trẻ em Việt Nam” đã làm rõ thực trạng giá trị và thực trạng giá trị trong các gia đình Việt Nam thời kỳ “Đổi mới”. Bên cạnh đó đề tài cũng nhấn mạnh tới vai trò của gia đình trong việc đảm bảo hạnh phúc và giáo dục đạo đức cho trẻ [21].