CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VẺ ĐỊA DANH VÀĐỊA DANH O THI XA AN KHE 1. Khai quat vé dia danh 1. Khái niệm Thuật ngữ địa danh (Typonymy) vốn xuất phát từ tiếng Hi Lạp ““Topos”, nghĩa là “ vị trí ” và “Onyma”, tức là “tên, gọi tên ”. Đó là những tên gọi đối với những vùng không gian địa lý nhất định cần đánh dấu, phân biệt.
Có khá nhiều định nghĩa về địa danh vì có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau với nhiều góc độ như: địa lý, lịch sử, văn hóa hay ngôn ngữ chính vì vậy khó có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm địa danh. Từ điển Hán Việt của Phan Canh [3, tr.417] định nghĩa khá so sai: dia danh 1a “tén cdc xứ, các vùng ”. Trong Mot số vấn đề về địa danh học Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Âu định nghĩa khá dễ hiểu, tuy nhiên, ông chỉ chú trọng đến đối tượng tượng tự nhiên: “Địa danh học (Toponymie) là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phương ” [2. Lé Trung Hoa, trong Dia danh hoc Việt Nam ta thay được đối tượng của địa danh, cách phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên, không tự nhiên và nguồn gốc ngôn ngữ: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiễu” [14.
Qua định nghĩa, ta có thê thấy được đối tượng của địa danh, cách phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên, không tự nhiên và nguồn gốc ngôn ngữ của địa danh. Như vậy, qua các định nghĩa có thể thấy rằng, mỗi tác giả có một cách nhìn nhận và quan niệm khác nhau về địa danh.Chúng tôi, lựa chọn và tham khảo định nghĩa của tác giả Lê Trung Hoa cho việc nghiên cứu đề tài này. Phân loại Phân loại địa danh là sự phân chia địa danh thành các kiểu các nhóm khác nhau. Bởi địa danh là đối tượng quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học như: lịch sử, địa lí, dân tộc học, văn hóa học, ngôn ngữ học.Qua một số công trình đã công bó, có thê thay rằng đây là van đề chưa thật sự thống nhất.
Tài liệu Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh [12, tr.21-26] cho thấy các nhà nghiên cứu phân loại địa danh theo những tiêu chí khác nhau.Dauzat trong La foponymie Francaise nghiên cứu địa danh theo nhóm ngữ nguyên. Còn Charles Rostaing trong cuốn Les nom de lieux lai kết hợp giữa nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng địa lý để nghiên cứu. Như vậy, tuy không trực tiếp phân loại địa danh nhưng các nhà nghiên cứu đều chia địa danh thành nhiều loại theo ngữ nguyên của nó. Một số tác giả Xô - Viết lại chia địa danh theo đối tượng mà địa danh biểu thị, tức là dựa vào nội dung của nó, như A.
Cac nha nghién ctru dia danh Viét Nam dua trén quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài và cố gắng đưa ra cách tiếp cận và phân loại mới. Trong đó, có thể kế đến hai tác giá Nguyễn Văn Âu và Lê Trung Hoa. Trong Mội số vấn đề về địa danh học Việt Nam[2, tr.37-40], Nguyễn Văn Âu tiến hành phân loại theo phương pháp địa lý tổng hợp, tức là sắp xếp địa danh theo các kiểu khác nhau theo các đối tượng địa lý, tự nhiên và kinh tế - xã hội, trong một hệ thống phân loại nhất định. Tắt cả được chia thành ba cấp: loại, kiểu và dạng địa danh.
Ở cấp thứ nhất, chia thành 2 loại địa danh: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội. Cách chia này chưa thật sự hợp lý, bởi lẽ “tự nhiên” là dạng thức của địa hình còn “kinh tế - xã hội” là hoạt động của con người chứ không phải của địa danh. 12 Cấp thứ hai, phân hóa cụ thể hơn, chia thành 7 kiểu: thủy danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố và quốc gia (đơn vị cao cấp tuyệt đối). Ta thấy được 3 kiểu đầu là địa danh chỉ địa hình 4 kiểu sau là địa danh chỉ đơn vị hành chính.
Cấp còn lại chia thành 12 dạng khác nhau: Sông ngòi, hỗ đầm, đổi nui, hải đảo, rừng rú, truông, tráng, làng, xã, huyện, quận, thị tran, tinh, thanh phố và quốc gia. Ta thay 6 loai đầu là địa danh chỉ địa hình, 6 kiểu còn lại là địa danh hành chính. Đây là cách phân loại nghiêng về tính dân gian, chú trọng cái cụ thể mà thiếu tính khái quát, chưa thật sự làm rõ giữa đối tượng địa lý và tên gọi đối tượng. Lê Trung Hoa trong Địa danh học Việt Nam [14, tr.14-17], chia địa danh làm 4 loại: Địa danh chỉ địa hình tự nhiên (địa danh địa hình).
- Địa danh chỉ các đơn vị hành chính (địa danh hành chính). - Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều (địa danh công trình xây dựng). - Địa danh chỉ vùng (địa danh vùng). Tất cả 4 loại này thuộc vào 2 nhóm lớn là địa danh chỉ đối tượng tự nhiên và địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo.
Ngoài ra, theo ngữ nguyên, có thể chia địa danh Việt Nam thành 4 nhóm lớn: - Địa danh thuần Việt. - Địa danh Hán - Việt. - Địa danh thuộc ngôn ngữ các dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, Bahnar, Jarai, Ê dé, Tay, Thai,.) - Địa danh bằng các ngôn ngữ khác. Một số tác giá khác như Trần Thanh Tâm trong 7# bàn về địa danh Việt Nam [25] chia địa danh làm 6 loại: 13 - Loại đặt theo địa hình và đặc điểm.
- Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian. - Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo và lịch sử. - Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu. - Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế.
- Loại đặt theo sinh hoạt xã hội. Qua cách phân loại trên ta thấy cách phân loại địa danh chưa tách bạch và còn nhiều bất cập vi dụ như: sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, nghề nghiệp đều thuộc hoạt động sinh hoạt xã hội. Ở luận văn này, chúng tôi tham khảo cách phân loại của tác giả Lê Trung Hoa để xử lí địa danh ở thị xã An Khê, Gia Lai. Theo đó, địa danh ở thị xã An Khê được chia thành 3 loại sau: - Dia danh chỉ địa hình tự nhiên (sông, mi, ao, hô, dap, bau, roc.
- Địa chỉ các đơn vị hành chính (phường, xã, thôn. - Địa danh công trình xây dựng (đường, cẩu, trạm.) Dựa theo tài liệu thu thập, địa danh ở thị xã An Khê theo ngữ nguyên có thé chia thành 3 loại: - Địa danh thuần Việt - Địa danh Hán - Việt. - Địa danh gốc Bahnar. Khái quát về thị xã An Khê 1.
Địa hình, giao thông, hành chính Thị xã An Khê được thành lập ngày 09/12/2003 xác định là đô thị quan trọng phía Đông tỉnh Gia Lai , nằm trên quốc lộ 19, có vị trí chiến lược quan trọng đối với tỉnh Gia Lai, thành phố Pleiku và cả vùng bắc Tây Nguyên và các vùng duyên hải Miền trung. Trung tâm thị xã An Khê có toa d6 dia ly 13°57 vĩ độ bắc và 108° kinh độ đông gồm: 14 + Phía Đông giáp huyện Tây Sơn - tỉnh Bình Định. + Phía Tây và Nam giáp huyện ĐăkPơ — Gia Lai. + Phía Bắc giáp huyện K°Bang — Gia Lai Thị xã có 11 đơn vị hành chính (6 phường và 5 xã), bao gồm: phường Tây Sơn, phường An Bình, phường An Tân, phường An Phú, phường An Phước, phường Ngô Mây, xã Song An, xã Tú An, xã Cửu An, xã Xuân An và xã Thành An.
Giao thông An Khê khá thuận lợi. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta vào cuối thế kỷ XIX, quốc lộ chiến lược 19 nối cảng biển Quy Nhơn với cao nguyên Pleiku hình thành, An Khê đã trở thành tâm điểm của con đường huyết mạch và án giữa hai ngọn đèo An Khê và Mang Yang- những bậc thềm quan trọng từ đồng bằng và trung châu lên các cao nguyên phía tây Trung Kỳ.Từ An Khê, tỉnh lộ 669 (đường số 7C cũ) được mở theo hướng bắc cũng là trục giao thông quan trọng nhất để vào huyện Kbang và cao nguyên Kon Plông (tỉnh Kon Tum).Tinh lộ 674 xuôi xuống phía nam, men theo bờ sông Ba, dẫn vào huyện Kông Chro, la Pa và nối với các quốc lộ 25 ở phía tây thị xã Ayun Pa tại địa danh ngã ba Cây Xoài. Từ nhiều thế kỷ qua, An Khê đã là cửa ngõ từ phía Đông Bắc vào Tây Nguyên giao tiếp với Nam Lào và đông bắc Campuchia qua con đường độc đạo nối Tây Sơn Hạ đạo (đồng bằng ven biển Bình Định) với Tây Sơn Thượng đạo (khu vực thung lũng An Khê thuộc tỉnh Gia Lai hiện nay) qua đèo An Khê. Vị trí địa lý của An Khê không chỉ tạo một vị thế chiến lược quan trọng trong chiến tranh giải phóng trước đây, mà cả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.
Lịch sử hình thành An Khê vốn là địa bàn cư trú từ lâu đời của tộc người Bahnar thuộc ngữ hệ Môn-Khmer (Nam Á). Trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất và nửa đầu thiên niên kỷ thứ hai sau công nguyên, vùng cao nguyên này chịu ảnh hưởng nặng 15 nề bởi những cuộc chiến tranh triền miên giữa các quốc gia phong kiến lớn ở khu vực là Lâm Ấp và Phù Nam, tiếp theo là Chăm Pa và Chân Lạp. Năm 1470, sau khi tiến vào phương Nam, vua Lê Thánh Tông đặt tên cho vùng cao nguyên phía tây miền Trung (khu vực tây Trường Sơn, bao gồm các cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk) là một phiên quốc của Đại Việt. Nhưng trên thực tế, cho đến lúc Ấy, vẫn chưa có sự lệ thuộc nào giữa các cao nguyên này với quốc gia Đại Việt.
Thập niên 40 của thế kỷ XVI, Bùi Tá Hãn được cử làm trấn thủ Quảng Nam (bao gồm cả địa phận Quảng Ngãi). Sau khi én định được khu vực cai quản, ông cũng đã đưa ra nhiều chính sách nhằm thắt chặt mối quan hệ giữa cư dân Đại Việt với các tộc người trên vùng cao nguyên. Những chính sách đó là tổ chức dinh điền, đồn điền và di dân lập ấp; cho phép thương lái lên buôn bán với đồng bào các dân tộc vùng cao. Ngoài ra, ông còn cho phép nông dân vùng người Kinh lên làm ăn và lập nghiệp; khuyến khích đồng bảo các dân tộc thiểu số tham gia vào các hoạt động của quốc gia.
Những chính sách trên của viên quan Bủi Tá Hãn đã làm cho mối quan hệ Kinh-Thượng trở nên gắn bó mật thiết hơn.