mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ của Ðại Việt. Thời Ðinh - Tiền Lê, miền đất này là phủ trị hàng đầu của Ðại Cồ Việt mà sử sách gọi là Kinh Phủ Năm 1010, đức Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Ðại La - Kinh Phủ, đặt tên kinh đô là Thăng Long (Rồng bay). Kể từ đây các vương triều Việt Nam liên tục định đô và xây dựng Kinh đô Thăng Long Sử cũ cho biết ngay trong năm 1010, đức Lý Thái Tổ xây dựng thành Thăng Long, mở 4 cửa: Ðông (Tường Phù), Tây (Quảng Phúc), Nam (Ðại Hưng), Bắc (Diệu Ðức) [3]; [29]; [30]. Tên thành Thăng Long thời Lý đến thời Lê sơ được gọi tên là Hoàng thành Thăng Long.
Năm 1014, Lý Thái Tổ xây dựng thành Ðại La [3]; [30]. Thành Ðại La được sửa chữa thêm trong các năm 1078 [3]; [29]; [30]. Thành Ðại La là vòng thành ngoài cùng bao bọc Hoàng thành Thăng Long. Năm 1029, Lý Thái Tông quy hoạch lại khu vực trung tâm đã cho đắp thêm một vòng thành mới gọi là Long Thành (Cấm Thành) [3]; [29]; [30].
Long Thành chính là Cấm Thành thời Lý và là vòng thành nằm gọn trong thành Thăng Long. Như vậy, đến năm 1029, Kinh đô Thăng Long đã hoàn thành trọn vẹn cấu trúc mặt bằng ba vòng thành bao bọc lẫn nhau (tam trùng thành quách). Trong các vòng thành, các vua Lý đã xây dựng các công trình kiến trúc của Hoàng đế, Hoàng gia và Triều đình. Trong 215 năm tồn tại, biên niên sử Việt Nam đã ghi được có 56 đợt và lần xây dựng với 200 kiến trúc có tên trong đó có 03 đợt xây dựng tiêu biểu là các năm 1010, 1029 và 1203.
Tất cả các cung điện của thời Lý đều được châu tuần đăng đối quanh chính điện Càn Nguyên xây năm 1010 và sau đó là chính điện Thiên An xây năm 1029. 5 Năm 1225, vương triều Trần thay vương triều Lý trong một chính biến hoà bình: Lý Chiêu Hoàng, vị vua nữ nhà Lý cuối cùng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tại điện Thiên An, triều đại nhà Trần bắt đầu. Nhà Trần tiếp quản Thăng Long của nhà Lý một cách khá êm đẹp, do đó một số kiến trúc xây dựng dưới nhà Lý vẫn được sử dụng lại dưới thời Trần. Ðó là các vòng thành và một số kiến trúc tiêu biểu ở khu trung tâm như điện Thiên An, điện Ðại Minh, cung Lệ Thiên, cung Thái Thanh, cung Cảnh Linh [4: 10, 17, 21, 26].
Nhưng, do bị thiên tai và ngoại xâm đốt phá quá nhiều, nhà Trần đã quy hoạch, xây dựng mới Kinh đô Thăng Long. Về các công trình kiến trúc ở Thăng Long thời Trần, sử sách chép không kỹ và liên tục như thời Lý, nhưng cũng ghi được có 7 đợt xây dựng lớn trong các năm 1230, 1237, 1248, 1253, 1363, 1364, 1368 với 55 công trình kiến trúc. Tiêu biểu nhất là đợt xây dựng lớn vào năm 1230. Năm 1230, Ðại Việt sử ký toàn thư chép: “Trong thành dựng cung, điện, lầu, các và nhà lang vũ ở hai bên phía Ðông và phía Tây, bên tả là cung Thánh Từ (nơi Thượng hoàng ở), bên hữu là cung Quan Triều (nơi vua ở)” [4:12].
Năm 1397, đại thần Hồ Quý Ly quyết định chuyển đô từ Thăng Long vào trấn Thanh Hóa (nay là di tích Thành Nhà Hồ, Thanh Hoá), dỡ toàn bộ điện Thiên An, điện Thụy Chương vào kinh đô mới [4: 193]. Năm 1400, triều đại nhà Hồ thành lập, đặt tên kinh đô mới là Tây Ðô, đổi tên Thăng Long là Ðông Ðô. Năm 1407 - 1527, nhà Minh xâm lược Ðại Việt và sử dụng Thăng Long làm trị sở đô hộ. Ngày 15/4/1428, sau khi đánh đuổi giặc Minh, đức Lê Thái Tổ lên ngôi tại Ðông Ðô đổi tên là thành Ðông Kinh [4: 293], bắt đầu xây dựng mới ở Thăng Long.
Năm 1428, Lê Thái Tổ cho xây dựng ở Thăng Long “điện Vạn Thọ, lại làm Tả Hữu điện, điện Kính Thiên, điện Cần Chính” [4: 298]. Tên gọi Hoàng thành Thăng Long lần đầu tiên chính thức ghi trong biên niên sử năm 1434 dưới thời Lê Thái Tông [4: 320]. Ðiện Kính Thiên là trung tâm Hoàng cung. Năm 1490, Lê Thánh Tông cho đắp rộng thêm Phượng Thành (tên gọi khác của Hoàng thành Thăng Long), hoàn thành bản đồ Ðông Kinh và địa hình đất nước.
Theo bản đồ này, Hoàng thành Thăng Long thời Lê Thánh Tông hết sức lớn rộng như 6 Phương Ðình Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) mô tả: “ … Ðông Môn bắt đầu từ thôn Ðức Môn (trước là thôn Ðông Môn tổng Ðồng Xuân), theo hướng Bắc đến sông Tô Lịch, theo bờ bên tả qua Bắc Môn về phía Tây, đến phường Nhật Chiêu, thu về phía Nam là cửa Bảo Khánh, đến trước bên hữu Văn Miếu, lại qua phía Tả là Nam Môn, đi thẳng về phía Ðông. Ðây là dấu cũ thành Thăng Long” [31: 178]. Sử chép, năm 1514, vua Lê Tương Dực “đắp thành bao sông Tô Lịch làm điện Tường Quang” [5:74]. Cùng với việc mở rộng quy mô Hoàng thành dưới thời Lê Thánh Tông, các vua Lê sơ đã lần lượt cho xây dựng nhiều kiến trúc trong Hoàng thành.
Tổng cộng, trong thời Lê sơ, sử ghi rõ tên ở Thăng Long có 52 công trình kiến trúc có tên như Chính điện Kính Thiên, điện Cần Chánh, điện Càn Ðức, điện Hội Anh, điện Thúy Ngọc, cung Bảo Quang, cung Thiên Hòa, cung Vĩnh Ninh, cung Minh Ðức, cung Ðoan Khang… Năm 1527, nhà Lê sơ suy yếu, đại thần Mạc Ðăng Dung lên ngôi tiếp tục đóng đô ở Thăng Long. Nhưng do nhà Mạc chú trọng tới việc xây dựng kinh đô mới ở quê hương Dương Kinh (Hải Phòng), mặt khác do có nội chiến Nam - Bắc triều, cho nên nhà Mạc xây dựng ở Kinh đô Thăng Long rất ít. Ðến khoảng cuối thế kỷ XVI, năm 1585, nhà Mạc mới “bàn việc tu sửa kinh thành, tiến hành xây dựng với quy mô lớn: nung gạch ngói, sai hạt An Bang và Ninh Sóc vận tải tre gỗ về bắt đầu từ năm Quang Hưng thứ 7 [1584], đến đây mới hoàn thành” [9: 344]. Năm 1587, “sai sửa chữa tầng ngoài thành Thăng Long và sửa sang các đường phố” [5: 162].
Năm 1588, nhà Mạc “lệnh quân dân các huyện trong bốn trấn đắp thêm ba lớp luỹ hào ngoài thành Ðại La, bắt đầu từ phường Nhật Chiêu, vượt qua Hồ Tây, qua cầu Dừa đến cầu Dền và suốt đến Thanh Trì cao hơn thành Thăng Long vài trượng, rộng 25 trượng, đào 3 lớp hào, trồng tre dài mấy mươi dặm để bọc lấy phía ngoài thành [5: 164]. Có thể nói đây là đợt thành Ðại La mở rộng nhất trong lịch sử Kinh đô Thăng Long. Sau chiến trận Trịnh - Mạc (1591 - 1592), có thể nói toàn bộ Kinh thành Thăng Long trở nên hoang tàn, đổ nát. Khoảng đầu thế kỷ XVII, nhà Lê - Trịnh bắt đầu xây dựng lại Kinh thành và Hoàng thành.
Ðại La thành và Hoàng thành được thu nhỏ lại từ phía Tây chỉ còn khoảng nửa phía Ðông, trong đó khu vực trung tâm nơi có điện Kính Thiên được giữ lại. Một thể chế chính trị mới đã làm thay đổi diện mạo Hoàng thành nói riêng cũng như toàn bộ Kinh thành thời này. Ðó là chế độ vua Lê - chúa Trịnh trong đó 7 vua Lê là hư vị, chúa Trịnh nắm toàn quyền điều hành đất nước. Ðể thể hiện quyền lực nhà chúa, chúa Trịnh đã không ở trong Hoàng thành mà lập riêng phủ Thái Vương (phường Phúc Lâm) bên tả cửa Nam thành Thăng Long [5:190].
Tại đây, dần dần mọc lên một hệ thống lầu, gác, phủ đệ hết sức lớn rộng, nguy nga tráng lệ. Trong Hoàng thành, năm 1630, Lê Thần Tông xây 3 toà cung điện và 10 gian hành lang [5: 229]. Nhưng đó gần như là lần xây dựng duy nhất được ghi chép trong Hoàng thành thời Lê Trung hưng. Tuy nhiên, dù ở vào hoàn cảnh lịch sử đặc biệt như vậy, nhưng trong khoảng thế kỷ XVII, Hoàng thành Thăng Long vẫn giữ được phần nào dáng vẻ huy hoàng tôn nghiêm của chốn Hoàng cung.
Dưới con mắt của một số người phương Tây, các kiến trúc Hoàng cung thời này vẫn hiện lên khá đẹp. Năm 1786, Nguyễn Huệ tiến vào Thăng Long đánh đổ nhà Trịnh, phò tá vua Lê Hiển Tông, nhất thống thiên hạ. Năm 1788, Lê Chiêu Thống đưa quân Thanh vào chiếm đóng Thăng Long. Lúc này, Nguyễn Huệ đang đóng ở Phú Xuân.
Từ Phú Xuân, “Tháng 11, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy năm đó làm năm Quang Trung thứ 1, lấy Phú Xuân làm Nam Kinh, Nghệ An làm Trung Kinh, Bắc Thành làm Bắc Kinh” [10: 85]. Liền đó, Quang Trung Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc, đại thắng quân Thanh, ngày mồng 5 tháng Giêng năm 1789 (âm lịch) giành lại Thăng Long. Dưới thời Tây Sơn, do thành thời Lê “lâu năm sụt đổ, đến đời Tây Sơn theo nền cũ đắp thành quách từ cửa Ðông Hoa đến cửa Ðại Hưng” [6: 201]. Ðiều đó chứng tỏ Thăng Long thời Tây Sơn vẫn được duy trì và sửa chữa trên cơ sở Hoàng thành Thăng Long cuối thời Lê Trung hưng.
Năm 1799, các thế lực của chúa Nguyễn từ phía Nam bắt đầu mạnh lên. Năm 1802, nhà Nguyễn đánh bại nhà Tây Sơn, chiếm thành Thăng Long. Năm 1804, vua Gia Long phá bỏ Thăng Long xây thành Hà Nội theo kiểu thành Vô - băng (Vauban) theo phong cách phương Tây. Trên thực địa ngày nay, các tường thành Hà Nội thời Nguyễn được xác định ở các khoảng vị trí: Mặt Bắc: Tương đương với đường Phan Ðình Phùng hiện nay, hiện còn di tích cổng được xây bằng gạch vồ, phía trên có gắn biển đá khắc ba chữ Hán "Chính Bắc Môn”.
Mặt Nam: Tương đương với đường Trần Phú. 8 Mặt Tây: Tương đương với đường Hùng Vương. Mặt Ðông: Tương đương với đường Lý Nam Ðế. Khu vực trung tâm có một tường bao vòng quanh hình chữ nhật, dài 350m, rộng 120m bao quanh điện Kính Thiên, bên trong xây một số toà Nội điện.
Khu vực này chính là trung tâm của di sản Thế giới Trung tâm Hoàng thành Thăng Long ngày nay. Cuối thế kỷ XIX, sau khi chiếm thành Hà Nội, thực dân Pháp phá bỏ tòa thành này để phục vụ việc xây dựng thành phố mới. Hà Nội trở thành thủ phủ của Ðông Dương và khu trục Trung tâm Hà Nội trong đó có khu vực Hành cung nhà Nguyễn (thường quen gọi là Thành cổ Hà Nội) trở thành trung tâm đầu não của quân đội Pháp. Năm 1954, sau đại thắng Ðiện Biên Phủ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp quản toàn bộ khu vực này.