phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp đánh giá tổng hợp tiềm năng tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Chƣơng 2: Các đặc trƣng cơ bản về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội vùng cửa sông Bạch Đằng Chƣơng 3: Đánh giá các dạng tài nguyên và giá trị tài nguyên thiên nhiên vùng cửa sông Bạch Đằng. Chƣơng 4: Định hƣớng khai thác và sử dụng tiềm năng tài nguyên thiên nhiên vùng cửa sông Bạch Đằng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập. 7 z CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Tổng quan tài liệu liên quan đến nội dung và khu vực nghiên cứu a) Các công trình nghiên cứu về đánh giá tổng hợp tiềm năng tài nguyên thiên nhiên Trên thế giới Thực tế, chƣa tìm thấy một khái niệm nào trên thế giới đồng nghĩa hoàn toàn với tài nguyên vị thế (TNVT) ở Việt Nam, mà chỉ xuất hiện khái niệm tài nguyên không gian thuộc về tài nguyên thiên nhiên.
Tại Singapore đã xuất hiện khái niệm TNVT (position resources) trong một số tài liệu quản lý vùng bờ biển, nhƣng không thấy xác định rõ nội hàm. Theo Chia Lin Cien (1992), tài nguyên ven bờ Singapore đƣợc chia thành ba nhóm: đất ven bờ biển và không gian biển, tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo. Ở đây đất ven bờ biển và không gian biển ít nhiều mang nội hàm của TNVT và đó cũng chính là các giá trị cơ bản của TNVT mà Singapore đã biết phát huy để trở thành một quốc đảo giàu có.1: Hệ thống tài nguyên thiên nhiên theo Cộng đồng Châu Âu (2002) Tài nguyên không tiêu hao Tài nguyên tiêu hao 1 2 Tài nguyên dòng: mặt trời, Tài nguyên sinh vật: rừng, cá, gió, sóng, nƣớc mƣa. Tài Tài nguyên nguồn: Không khí Tài nguyên nguồn: các bồn nguyên (Oxy, CO2), đại dƣơng (nƣớc) nƣớc ngọt, nƣớc ngầm, đất mầu.
Tài nguyên không gian Đất, biển, khoảng không Tài 3 4 nguyên Tài nguyên có thể tái chế: không Kim loại. Tài nguyên không tái tạo và tái Tài nguyên có thể thu hồi: không thu hồi: Nhiên liệu hoá tạo các khoáng sản khác, đất. thạch nhƣ dầu mỏ, ga, than. Theo Cộng đồng Châu Âu (European Commission, 2002), tài nguyên thiên nhiên đƣợc chia thành 5 dạng (bảng 1.1): 1- Tài nguyên tái tạo không tiêu hao (Re- newable resources - non-extinguishable); 2- Tài nguyên tái tạo có tiêu hao (renewable 8 z resources - extinguishable); 3- Tài nguyên không tái tạo và không tiêu hao (non- renewable resources - non-extinguishable); 4- Tài nguyên không tái tạo, tiêu hao (non- renewable resources - extinguishable); 5- Tài nguyên không gian (space resources).
Cách phân loại trên là theo động thái và khả năng tái tạo - tiêu hao tài nguyên. Nếu phân theo nguồn gốc thì tài nguyên thiên nhiên gồm có ba nhóm cơ bản: tài nguyên sinh vật; tài nguyên phi sinh vật và tài nguyên không gian. Trong mối quan hệ giữa các nƣớc lớn và các nƣớc phát triển với các nƣớc nhỏ và đang phát triển, vị thế địa kinh tế và vị thế địa chính trị là những vấn đề nhạy cảm. Vì vậy, các nƣớc lớn và phát triển ít đề cập đến các yếu tố vị thế địa kinh tế và vị thế địa chính trị, chỉ công khai những mối quan tâm về nghiên cứu vị thế địa tự nhiên trong phạm trù sử dụng không gian cụ thể.
Có lẽ, chỉ những nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam mới nhận thấy sự đối mặt và sự cần thiết phải đề cập vấn đề vị thế địa kinh tế và vị thế địa chính trị. Ở Việt Nam Từ những năm 1990, khi nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên vùng bờ biển, ở Phân viện Hải dƣơng học tại Hải Phòng, nay là Viện Tài nguyên và Môi trƣờng biển, đã xuất hiện xu hƣớng sử dụng không gian theo hệ thống địa hệ (geosystems) - thuỷ vực (water bodies), tiêu biểu là những điều tra nghiên cứu và đề xuất về sử dụng hợp lý các đầm phá (NC Hồi và nnk, 1996) và hệ thống vũng vịnh (TĐ Thạnh và nnk, 2005). Dần dần, từ ý tƣởng về tài nguyên không gian biển, những khái niệm về TNVT biển, vùng bờ biển và hải đảo đã hình thành. Đã có những xu hƣớng ý tƣởng về TNVT, tƣơng đồng với khái niệm tài nguyên không gian và xếp tài nguyên này vào nhóm tài nguyên phi sinh vật, là “những lợi thế so sánh về phƣơng diện địa lý, khả năng khai thác các giá trị phi vật chất và vật chất của một đơn vị lãnh thổ nhất định” và độc lập với khái niệm không gian biển (NC Hồi, 2005).
Khái niệm vị thế ở đây chƣa phải về tài nguyên, mà về khả năng khai thác không gian tại chỗ. Một số tác giả, trong quá trình điều tra, nghiên cứu sử dụng không gian lãnh thổ cũng đã cố gắng tiếp cận dạng TNVT nhƣ vị thế và dự báo xu thế phát triển các VCS và vùng châu thổ sông Mê Kông (NĐ Dỹ và nnk, 2009), hay vị thế của hệ thống vũng vịnh ven bờ đáp ứng phát triển bền vững hệ thống cảng biển (PV Xuân, 2005) mặc dù các nghiên cứu còn chƣa rõ về phƣơng pháp luận. Chỉ gần đây, những vấn đề về khái 9 z niệm, phƣơng pháp luận và tiêu chí đánh giá tiềm năng và định hƣớng phát huy giá trị TNVT biển, ven bờ biển và các đảo mới đƣợc xây dựng thành hệ thống, có cơ sở khoa học trong dự án 14/47: Điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thế, kỳ quan sinh thái, địa chất vùng biển và các đảo Việt Nam” (TĐ Thạnh, 2007a; TĐ Thạnh và nnk, 2008c, 2010a). Tập thể tham gia thực hiện Dự án này đã tiến hành điều tra, đánh giá và công bố các kết quả nghiên cứu về TNVT biển Việt Nam (TĐ Thạnh, 2008a; TĐ Thạnh và nnk, 2010a); một số vùng bờ biển của biển Việt Nam nhƣ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (LĐ An và nnk, 2010); một số tỉnh và thành phố trọng điểm nhƣ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (TĐ Thạnh, 2007b), Thành phố Hải Phòng (TĐ Thạnh và ĐV Huy, 2010b, TĐ Thạnh và nnk, 2013) và thành Thăng Long (LĐ An và TĐ Thạnh, 2010); hệ thống vũng vịnh (TĐ Thạnh, 2009b), VCS Bạch Đằng (TĐ Thạnh, 2008a), hệ thống đảo Việt Nam và các đảo Bắc Bộ (LĐ An, 2008; LĐ An và nnk, 2010).
Phân tích khả năng sử dụng TNVT biển còn đƣợc đánh giá theo các mục tiêu cụ thể nhƣ các khu neo trú tránh gió bão (TĐ Thạnh, 2009) hay rộng hơn phục vụ xây dựng mô hình quản lý tổng hợp vùng bờ biển Bắc Bộ (TĐ Thạnh và nnk, 2011). Mặc dù còn là vấn đề rất mới, vấn đề TNVT đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học, quản lý và công luận. b) Các công trình liên quan đến khu vực nghiên cứu Từ nhiều góc độ khác nhau, VCS Bạch Đằng đã đƣợc quan tâm nghiên cứu từ lâu. Những nét cơ bản về địa lý tự nhiên VCS Bạch Đằng đƣợc phác thảo trong các cuốn “Dƣ địa chí” của Nguyễn Trãi, thế kỷ XV và Phan Huy Chú vào thế kỷ XVIII.
Từ cuối thế kỷ XIX ngƣời Pháp đã tiến hành khảo sát địa hình, thủy văn VCS Bạch Đằng. Đáng chú ý là hoạt động của đô đốc Caxtex và kỹ sƣ Renaux. Trong nửa đầu thế kỷ XX, cũng đã có những đợt điều tra, khảo sát phục vụ cho việc phát triển mở rộng cụm cảng Hải Phòng - Quảng Yên - Điền Công. Những hoạt động này đƣợc tổng kết trong các báo cáo của các giám đốc cảng Hải Phòng Lapique và Gauthier.
Các tác giả này đều cho rằng VCS Bạch Đằng nằm trong chế độ bồi tụ châu thổ của hệ thống sông Thái Bình. Những khảo sát địa hình, thủy văn phục vụ mục tiêu cải tại cảng còn đƣợc tiến hành do các chuyên gia Liên Xô vào năm 1959 - 1964; các chuyên gia Ba Lan năm 1978 và các dự án UNDP VIE/88/014 (1991 - 1992). 10 z Trong những năm 1980 - 1990, VCS Bạch Đằng trở thành địa bàn nghiên cứu quan trọng của Viện Tài nguyên và Môi trƣờng biển (Viện Hàn lâm Khoa học vad Công nghệ Việt Nam) trong các đề tài cấp nhà nƣớc thuộc chƣơng trình biển: 48.14 “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và nguồn lợi dải ven biển Việt Nam”, 48B.02 “Nghiên cứu sử dụng hợp lý các bãi triều lầy ven biển phía Bắc Việt Nam”. Đến những năm 1990 - 1993, Đoàn địa chất Hà Nội đã tiến hành lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000 tờ Hải Phòng (NQ Toàn và nnk, 1993) và Viện Tài nguyên và Môi trƣờng biển đã tiến hành lập bản đồ môi trƣờng địa chất ven bờ Hải Phòng tỉ lệ 1/50.
Từ những năm 1990 trở lại đây, VCS Bạch Đằng là khu vực có nhiều hoạt động điều tra, nghiên cứu về tài nguyên sinh vật, điều kiện khí tƣợng thủy văn và môi trƣờng trong các đề tài, dự án từ cấp tỉnh/thành phố, cấp bộ ngành đến cấp nhà nƣớc và các nhiệm vụ hợp tác Quốc tế do nhiều đơn vị, trong đó nổi bật là Viện Tài nguyên và Môi trƣờng biển thực hiện. Tuy nhiên, lần đầu tiên tài nguyên vị thế VCS Bạch Đằng đƣợc điều tra và đánh giá trong Dự án số 14: “Điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thế, kỳ quan sinh thái và địa chất vùng biển và các đảo Việt Nam” thuộc đề án tổng thể 47 về “Điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trƣờng biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”, đƣợc thực hiện trong các năm 2007 – 2011 do Viện Tài nguyên và Môi trƣờng biển là cơ quan chủ trì và PGS. Trần Đức Thạnh làm chủ nhiệm. Khái niệm cơ bản về tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên là con ngƣời, tài sản, nguyên vật liệu, nguồn vốn có thể sử dụng để đạt đƣợc một mục đích.
Tài nguyên thiên nhiên là tài nguyên xuất hiện trong tự nhiên có thể sử dụng để tạo ra lợi ích. Tài nguyên thiên nhiên là một đặc tính hoặc một hợp phần của môi trƣờng tự nhiên có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời nhƣ đất, nƣớc, động vật, thực vật, v. Tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế và giá trị phi kinh tế (EEA, 2007). Tài nguyên thiên nhiên, theo nguồn gốc, đƣợc chia thành tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật.
Theo khả năng tái tạo, chúng đƣợc chia thành tài nguyên tái tạo và không tái tạo, tài nguyên tiêu hao và không tiêu hao. Tài nguyên tái tạo sinh vật nhƣ tôm, cá, thực vật ngập mặn, v.