ĐẶT VẤN ĐỀ Tỉnh Quảng Bình có tổng diện tích tự nhiên 800.003 ha; trong đó: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp 615.530 ha; bao gồm đất có rừng 574.521 ha; đất trống chưa có rừng 73. Tổng diện tích quy hoạch rừng phòng hộ năm 2018 là 151.889 ha; sau khi rà soát, bóc tách đến nay diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch rừng phòng hộ và giao cho 07 Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) trực tiếp quản lý, bảo vệ là 101. (Quyết định 4534/QĐ-UBND ngày 25/12/2018 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 03 loại rừng giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến n m 2030 tỉnh Quảng Bình) Khu vực Động Châu, huyện Lệ Thủy ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Bình, còn lưu giữ được một diện tích hiếm hoi rừng ẩm thường xanh trên đất thấp ít bị tác động của miền trung Việt Nam. BQLRPH Động Châu quản lý gần 20.000 ha rừng, thuộc vùng sinh thái Bắc Trung Bộ.
Đây là một phần của dải rừng đất thấp (khoảng 120.000 ha) kéo dài từ Lâm trường Trường Sơn ở phía bắc đến khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị ở phía nam. Đây là vùng có giá trị đa dạng sinh học cao cùng với diện tích lớn sinh cảnh rừng đất thấp và đã được xác định là một Vùng chim quan trọng (Important Bird Area) trong Vùng chim đặc hữu đất thấp miền trung (Annamese Lowland Endemic Bird Area) theo Tổ chức Bảo tồn chim Quốc Tế BirdLife International và đây cũng là Vùng Đa dạng sinh học Trọng điểm (Key Biodiversity Area) trong Hành lang đa dạng sinh học Quảng Bình-Quảng Trị-Xebangfai (Quang Binh – Quang Tri – Xebangfai Biodiversity Corridor) theo Tổ chức bảo tồn quốc tế (Conservation International). Trong những năm qua, rừng phòng hộ Động Châu được các cơ quan chức năng bảo vệ và phát triển tốt. Các giá trị đa dạng sinh học còn nhiều bí ẩn, chưa được khám phá.
Nhiều nhà khoa học dự đoán rằng: Đây là khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao cần được bảo tồn. Những thông tin điều tra bước đầu cho thấy khu vực này còn tồn tại nhiều loài động vật quý hiếm như: Bò tót, Sao La, Mang Lớn, Thỏ vằn trường sơn, Trĩ Sao, Hồng hoàng… Khu vực Động Châu - Khe c 2 Nước Trong được tổ chức Bảo tồn Chim Thế giới công nhận là một trong hơn 60 vùng chim quan trọng, đặc hữu của Việt Nam (2002). Khu rừng Động Châu trước đây do lâm trường Kiến Giang và Lâm trường Khe Giữa quản lý. Năm 2006, đã thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ Động Châu theo Quyết định số 3136/QĐ-UBND ngày 13/11/2006 của UBND tỉnh về việc thành lập các BQLRPH trực thuộc UBND huyện, thành phố trên cơ sở chuyển đổi các lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh; Ban quản lý rừng phòng hộ Động Châu trực thuộc UBND huyện Lệ Thủy quản lý (Quyết định số 3557/QĐ-UBND ngày 29/12/2006 về việc phê duyệt phương án sắp xếp, thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ Động Châu trực thuộc UBND huyện Lệ Thủy).
Sau khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay, về cơ bản các BQLRPH trực thuộc UBND huyện, thành phố đã gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của chính quyền trên địa bàn, bước đầu đã tranh thủ được sự quan tâm đầu tư công tác cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất và nguồn kinh phí từ ngân sách cấp huyện cho công tác bảo vệ rừng trong lâm phận được giao. Các BQLRPH luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, do đó các vụ việc phá rừng, khai thác rừng phòng hộ trái phép đã được kịp thời phát hiện và tập trung giải quyết. Cơ quan Kiểm lâm các cấp cũng đã đẩy mạnh công tác hướng dẫn, giám sát, kiểm tra và phối hợp ngặn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, do vậy công tác bảo vệ rừng ngày càng được củng cố, tăng cường theo hướng bảo vệ rừng tại gốc. Bên cạnh những thuận lợi, công tác bảo vệ rừng tại các BQLRPH nói chung và BQLRPH Động Châu phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, đó là: Phần lớn diện tích rừng quản lý, đặc biệt là các khu rừng giàu tài nguyên, trữ lượng gỗ lớn tập trung chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở, tiếp giáp với biên giới Việt - Lào và giáp ranh giới với hai tỉnh Quảng Trị, Hà Tỉnh; nhu cầu lâm sản ngày càng tăng tạo sức ép lên khai thác tài nguyên rừng ngày càng lớn, nhất là đối với khu vực miền núi thiếu đất sản xuất nông nghiệp; đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, viên chức, lao động hợp đồng, nhất là ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh còn gặp nhiều khó khăn; biên chế lực lượng của các ban quản lý c 3 rừng phòng hộ còn hạn chế trong khi địa bàn quản lý rộng; lực lượng bảo vệ rừng nhìn chung vẫn còn hạn chế về nghiệp vụ, chuyên môn nên ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng và sử dụng rừng.
Năm 2018, nhận thấy giá trị đa dạng sinh học cực kỳ to lớn của khu rừng phòng hộ Động Châu, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh từ rừng phòng hộ sang rừng đặc dụng. Kết quả ngày 25/12/2018, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 4534/QĐ -UBND về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Quảng Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, theo đó 18.282 ha rừng phòng hộ của BQLRPH Động Châu đã được điều chính sang quy hoạch rừng đặc dụng. Hiện nay, UBND tỉnh đang chỉ đạo các ngành chức năng, đơn vị có liên quan xây dựng Dự án thành lập khu Dự trữ thiên nhiên Động Châu- Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng từ khi thành lập BQLRPH Động Châu đến nay, từ đó đề xuất nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của BQLRPH Động Châu, đặc biệt trong bối cảnh diện tích rừng phòng hộ Động Châu được điều chỉnh sang quy hoạch rừng đặc dụng thì việc thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý bảo vệ rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Động Châu, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình”.
Kết quả của đề tài góp phần xây dựng cơ sở khoa học củng như cơ sở quản lý tài nguyên rừng cho các khu rừng cần được được quản lý một cách hiệu quả hơn, nhằm bảo tồn giá trị kinh tế, văn háo – xã hội từ rừng mang lại. c 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Quản lý bảo vệ rừng là một lĩnh vực tương đối rộng lớn bao gồm hàng loạt các biện pháp quản lý bảo vệ rừng khác nhau như quản lý bảo vệ rừng bằng các chính sách, nghị định như giao đất, giao rừng, phòng chống lửa rừng… Trước đây vấn đề quản lý, sử dụng rừng và đất rừng chỉ đơn thuần là việc khai thác các sản phẩm của rừng mà ít hoặc chưa chú trọng tới việc bảo vệ, tái tạo và phát triển vốn rừng cũng như việc phát huy vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Hiện nay vấn đề quản lý sử dụng rừng đều phải dựa trên cơ sở đảm bảo sự phát triển bền vững.
Quản lý rừng bền vững là thực hiện triệt để và đồng bộ các biện pháp nhằm không ngừng phát huy hiệu quả kinh doanh, ổn định liên tục những tác dụng và lợi ích của rừng trên lĩnh vực khác nhau. Sự phát triển bền vững này phải đảm bảo 3 yếu tố: Bền vững về mặt môi trường sinh thái; Bền vững về mặt xã hội; bền vững về mặt kinh tế. Nghĩa là phát triển phải đảm bảo lợi ích lâu dài cho con người, tài nguyên sinh vật, môi trường cần phải giữ gìn cho các thế hệ sau, thể hiện ba mặt đó là phù hợp về môi trường, có lợi ích về mặt xã hội đáp ứng về mặt kinh tế. Trong thực tiễn, để quản lý tốt một khu rừng cần xác định được các mối đe dọa đối với khu khu rừng đó và tìm các biện pháp can thiệp phù hợp để giảm thiểu các mối đe dọa đó, đây là cách tiếp cận mới trong quản trị rừng, hướng đến phát triển lâm nghiệp bền vững.
Có rất nhiều mối đe dọa đối với khu rừng phòng hộ, đặc dụng như: Khai thác bất hợp pháp, cháy rừng, canh tác nông nghiệp, các công trình phát triển kinh tế - xã hội …Tính chất nghiêm trọng của mỗi đe dọa đối với mỗi khu rừng không giống nhau, do đó cần phân hạng mức độ của các mối đe dọa để có các biện pháp ưu tiên xử lý thích hợp. Một điều cần lưu ý rằng việc đánh giá mối đe dọa đối với khu rừng không có có nghĩa là phải cố để loại trừ những mối đe dọa này, bởi vì trong nhiều trường hợp hầu như không thể làm được như vậy (Primack, 1999). Việc con người sử dụng c 5 cảnh quan là một thực tế mà chúng ta phải tính đến khi lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng. Trong kế hoạch quản lý các khu rừng phòng hộ hay đặc dụng, việc người dân địa phương và du khách sử dụng dịch vụ môi trường rừng và cảnh quan sinh thái cần phải là nội dung trung tâm, kể cả ở quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển (Mackinnon et al.,1992; Wells and Brandon, 1992; Western et al.
Những người dân từ ngàn đời nay đã sử dụng các sản phẩm trong khu rừng, nay đột nhiên không được phép vào đó nữa sẽ phải chịu sự mất đi quyền được tiếp cận các nguồn tài nguyên cơ bản cho sự sinh tồn của họ. Vì thế, hiển nhiên họ sẽ giận giữ và những người dân trong hoàn cảnh như vậy sẽ không thể là những người ủng hộ mạnh mẽ cho công tác bảo vệ rừng. Nhiều khu rừng bảo vệ, phát triển được hay bị hủy hoại là phụ thuộc vào mức ủng hộ hay thù địch của những người sử dụng các khu vực này. Trong trường hợp lý tưởng nhất là người dân địa phương được tham gia vào quy hoạch và quản lý các khu rừng, được đào tạo và tuyển dụng vào làm việc trong các ban quản lý và được hưởng lợi từ chính sách việc họ thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học trong khu rừng bảo vệ.