Đặt vấn đề Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nhằm thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội của xã Bình Trung cũng như nhiều xã trên địa bàn huyện Chợ Đồn nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Trước những nhu cầu cấp bách đó đòi hỏi xã Bình Trung cần có những quy hoạch tổng thể mang tính định hướng lâu dài để sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, khai thác khoáng sản, có sự đầu tư khai thác và phát triển tốt để xã Bình Trung có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế, trở thành trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa của các cụm xã khu trung tâm huyện Chợ Đồn. Bình Trung, Chợ Đồn là xã miền núi vùng cao, việc đưa những loại cây trồng trên đất lâm nghiệp có giá trị kinh tế phù hợp với điều kiện địa lý, thổ nhưỡng là rất cần thiết. Trong những năm gần đây công tác trồng rừng trên địa bàn xã Bình Trung đã đẩy mạnh vận động nhân dân trồng rừng.
Diện tích rừng trồng ngày càng tăng. Xác định lâm nghiệp là thế mạnh của tỉnh Bắc Kạn, thực hiện quyết định số 147/2007/ QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 – 2015. Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 07/10/2011 về việc phê duyệt chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất một số cây trồng trong phát triển nông nghiệp chính và trồng rừng sản xuất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 - 2015. Đây là những chính sách thiết thực nhằm khuyến khích nhân dân tham trồng rừng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh Bắc Kạn nói chung và xã Bình Trung nói riêng.
n 2 Tuy nhiên, thực tế trên địa bàn xã hiện nay nhân dân chủ yếu tập trung phát triển trồng cây Mỡ là chủ yếu nên dẫn đến nhiều yếu tố bất lợi như: một số nơi chưa phù hợp với điều kiện lập địa, sâu bệnh phát triển mạnh, chu kỳ kinh doanh dài,. nên hiệu quả kinh tế chưa thực sự hiệu quả. Để phát triển lâm nghiệp ở xã một cách bền vững trên cơ sở yêu cầu phải lựa chọn cây trồng phù hợp với những điều kiện thực tế tại địa phương, khắc phục được những tồn tại hạn chế trong thực hiện công tác trồng rừng của huyện trong những năm qua. Vì vậy đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo lai tại xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống cho người dân và góp phần quan trọng việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng công tác trồng và phát triển cây Keo lai của xã nhằm đề xuất các giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo lai tại xã Bình Trung tỉnh Bắc Kạn góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người trồng rừng. Ý nghĩa của đề tài - Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, và có thể tích lũy được những kiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai. - Trong thực tiễn sản xuất: Nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống cho người dân và góp phần quan trọng việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay. - Đề tài còn là cơ sở cho các đề tài nghiên cứu sau có liên quan tại địa phương n 3 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Thông tin chung về cây Keo lai Keo lai là tên gọi tắt để chỉ giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (A. mangium) và Keo lá tràm (A. auriculiformis), giống lai này được Messrs Herburn và Shim phát hiện lần đầu tiên vào năm 1972 trong số những cây Keo tai tượng được trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah của Malaysia. Ở Việt Nam giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) được phát hiện từ năm 1992.
Những cây lai này (gọi tắt là Keo lai) được phát hiện tại các vùng như Tân Tạo, Sông Mây, Trị An, Trảng Bom ở Đông Nam Bộ và Ba Vì (Hà Tây). Keo lai ưu việt hơn các loài bố mẹ và một số cây trồng rừng khác là: - Đặc tính sinh trưởng nhanh về đường kính, chiều cao và hình khối (thân cây thẳng đứng, cành nhánh nhỏ, sức khỏe tốt), biên độ sinh thái rộng Nguyên, Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ). - Khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh hại tốt, có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện lập địa và các loại đất khác nhau. - Keo lai còn có tác dụng cải tạo đất, cải tạo môi trường thông qua khả năng cố định đạm, lưu giữa carbon và lượng cành khô rụng hàng năm trả lại cho đất lượng chất hữu cơ đáng kể.
- Rừng trồng Keo lai cũng được đánh giá là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhanh thu hồi vốn, thời gian sinh trưởng ngắn hơn các loài cây trồng rừng khác (từ 5 đến 7 năm đã được khai thác). - Kỹ thuật trồng Keo lai đơn giản, dễ trồng, hiện nay nhiều người dân đã biết trồng rừng Keo lai. n 4 Từ những đặc tính và công dụng nêu trên, Keo lai đã được trồng phổ biến nhiều vùng trong cả nước và được đánh giá là cây đa tác dụng, có vị trí quan trọng trong danh mục cơ cấu cây trồng lâm nghiệp chủ lực, cần được phát triển để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả trồng rừng và xóa đói giảm nghèo ở những vùng miền núi. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2.
Trồng rừng nguyên liệu công nghiệp năng suất cao Trồng rừng thành công ở Bradin là một điển hình hết sức khích lệ. Năm 1991, Campinhos đã thông báo kết quả thực tiễn năng suất rừng trồng trong suốt 30 năm ở Bradin. Có thể thấy do nhờ chọn giống, nhân giống hom và thâm canh mà năng suất rừng trồng tăng 5% mỗi năm qua một chu kỳ dài 30 năm như: 1960 - 1965, hạt giống chất lượng di truyền thấp, năng suất 13m3/ha/năm. 1966 - 1970, hạt giống chất lượng di truyền thấp, có sử dụng bón phân, năng suất đạt 17m3/ha/năm.
1971 - 1975, hạt thuần khiết di truyền (chưa cải thiện), bón phân, năng suất đạt 22m3/ha/năm. 1986 - 1990, tiếp tục chọn lọc, nhân giống bằng hom, bón phân năng suất 60 m3/ha/năm. Ở một số lô thí nghiệm 6 - 8 tuổi, rừng trồng đã cho tăng trưởng 70 - 90 m3/ha/năm [13]. Diện tích rừng trồng bằng cây hom ở Công Gô từ 1978 đến 1986 là 23.407 ha, trong đó năm ít nhất 1978 là 61 ha, năm cao nhất 1984 là 5096 ha.
Tăng trưởng bình quân năm ở tuổi 6 của các dòng vô tính được chọn là 35 m3/ha/năm so với 12 m3/ha/năm ở các lô hạt chưa được tuyển chọn và 25 m3/ha/năm của các xuất xứ đã được chọn. Như vậy tăng thu từ 40% lên tới 192 %, tức là gần 3 lần so với rừng trồng chưa được cải thiện [12]. n 5 Quaile (1989) đã thông báo kết quả rừng trồng bằng cây con từ hạt ở Nam Phi đạt tăng trưởng bình quân 21,9m3/ha/năm, trong khi đó các dòng vô tính trồng đại trà, đạt trên 30m3/ha/năm. Tác giả cho rằng, giai đoạn đầu rừng trồng từ hạt đôi khi có chiều cao lớn hơn rừng trồng từ dòng vô tính, do vậy dùng số liệu chiều cao trong hai năm đầu có thể dẫn đến kết luận sai lầm.
Các dòng vô tính từ vật liệu chọn giống thế hệ cho năng suất cao hơn và đồng đều hơn cây con từ hạt. Kết luận trên của Quaile là đòn bẩy khích lệ công tác trồng rừng vô tính phục vụ nguyên liệu công nghiệp ở Nam Phi. Những nghiên cứu về các loài keo Acacia Trong những năm 1980, các loài keo Acacia đã được đưa vào thử nghiệm ở nhiều nước vì những khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, năng suất cao. Khảo nghiệm ở Philippin với 7 loài, cho thấy Keo tai tượng có chiều cao đứng thứ ba ở cả hai điểm thí nghiệm (Havmoller,1989).
Sinh trưởng chiều cao các loài keo 18 tháng tuổi Mindoro Mindanao Loài Mindoro Mindanao A.polystachya 2,6 m 3,1 m Năm 1986, trên đảo Hải nam -Trung quốc, một khảo nghiệm với 20 xuất xứ của 8 loài keo đã được thực hiện, ở tuổi thứ 2, thứ tự xếp hạng của các xuất xứ như sau (Minquan, Ziayu và Yutian ,1989). Kết quả nghiên cứu n 6 cho thấy, chiều cao và đường kính của cây đều tương đối lớn. Loài có chiều cao và đường kính lớn nhất là A.crassicarpa với các xuất xứ khác nhau. 15 xuất xứ còn lại, bao gồm các xuất xứ keo là tràm, keo tai tượng, A.confusa, như vậy keo tai tượng không nằm trong nhóm loài và xuất xứ dẫn đầu, tức là sau hai năm tuổi sinh trưởng D < 7,4 cm, H<4,7 m.
Năm 1985, 23 xuất xứ của 12 loài keo đã được khảo nghiệm tại 6 điểm ở Thái Lan (Chittachumnon và Sirila, 1991). Thứ tự xếp hạng theo chiều cao của 10 xuất xứ dẫn đầu (36 tháng tuổi) tại hai điểm thí nghiệm là: Tại Ratchaouri, Keo tai tượng xuất xứ 13846 xếp thứ chín có chiều cao 7,2 m, loài dẫn đầu là A.craosocarpa xuất xứ 13653 xếp thứ mười với chiều cao 6,8 m. Tại Saitheng, keo tai tượng không nằm trong mười xuất xứ dẫn đầu, tại đây loài và xuất xứ dẫn đầu vẫn là A.crassicarpa 13683 với chiều cao 14,8 m, A. aulacocarpa xếp thứ mười với chiều cao 11,3m.
Darus (1991) khi nghiên cứu vai trò của lá trong giâm hom keo tai tượng cho rằng, lá giữ vai trò chủ chốt trong việc hình thành mô phân sinh của rễ ở các hom chưa hoá gỗ đặt dưới phun mù, cần cắt đi một phần lá cho hom gọn nhỏ lại, vừa đỡ thoát hơi nước lại tiết kiệm được diện tích dâm cây. Tác giả cho rằng cắt một nửa phiến lá đem lại kết quả ra rễ tốt nhất cho loài keo tai tượng với tỷ lệ ra rễ 76 %. Tewari (1994) [15] nghiên cứu sinh trưởng của các loài keo và một số loài cây khác trên các loại đất hoang hoá tại nhiều khu vực khác nhau ở ấn độkết quả đã khẳng định được tính trội về khả năng chịu hạn của một số loài keo sinh trưởng trên đất bạc màu như: A. * Nghiên cứu về Keo lai.