Chương 1. Tổng quan tài nguyên đất và đánh giá đất đai Chương 2. Tài nguyên đất và các nhân tố ảnh hƣởng đến đất thị xã An Khê Chương 3. Đánh giá thích hợp đất đai cho cây mía thị xã An Khê e 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI 1.
TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP Đất đai là một dạng tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt trong nền sản xuất xã hội loài ngƣời. Cùng với tiến trình phát triển của nền KT-XH thì tài nguyên đất ngày càng bị thu hẹp, đất đai bị xói mòn, tính chất đất bị thay đổi… thêm vào đó là việc xây dựng và mở rộng các công trình phát triển KT - XH làm cho diện tích đất bị thu hẹp nghiêm trọng, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp. Do đó, vấn đề nghiên cứu về tài nguyên đất đai, đánh giá tiềm năng đất cho phát triển nông nghiệp và hiện nay là nông nghiệp bền vững đã đƣợc rất nhiều nhà khoa học quan tâm. Tài nguyên đất Trên thế giới Là một dạng tài nguyên tái tạo đƣợc trong quá trình sản xuất, việc nghiên cứu về đặc điểm, tính chất của đất nhằm mục đích cho phát triển KT – XH nói chung và nông nghiệp nói riêng là một trong những vấn đề nghiên cứu chính khi tiến hành đánh giá đất đai.
Từ những năm 50 của thế kỷ XX cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này để phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất, đƣợc triển khai với nhiều đề tài, nhiệm vụ các cấp bằng các phƣơng pháp, phƣơng tiện rất phong phú và đa dạng. Hội Khoa học đất Việt Nam đã tổng kết công tác nghiên cứu phân loại đất trên thế giới và chia làm ba thời kỳ [14]: a. Thời kỳ trước Dokuchaev (giữa thế kỷ XIX trở về trước) Ở thời kỳ này, các nhà khoa học có những công trình đáng chú ý nhƣ Brady trong công trình nghiên cứu của mình đã nhận định ngƣời Trung Quốc cách đây hơn 4.000 năm đã nghiên cứu phân chia ruộng đất để phát triển nông nghiệp, dựa vào địa tô chênh lệch để đánh thuế các hộ nông dân [14]. Tiếp đó, các công trình nghiên cứu ở Hoa Kì hay ở Nga tƣơng đối cụ thể hơn.
Điển hình từ năm 1932, ở Hoa Kì E. Ruffin đã xây dựng một chƣơng trình nghiên cứu phân loại đất, đến năm 1860, W.Hilgard [26] đã xây dựng bảng phân loại đất và bản đồ đất đầu tiên cho Hoa Kì, trên cơ sở nhận thức đất là một vật thể tự nhiên, tính chất đất có mối quan hệ đến thực vật và khí hậu. Ở nƣớc Nga, ngành khoa học đất ra đời sớm, đặt nền móng về cơ sở khoa học và những phƣơng pháp cơ bản nghiên cứu về đất. Các kết quả e 6 nghiên cứu này đã đƣợc tiến hành sau khi thành lập Viện Hàn lâm khoa học Nga vào năm 1725.
Để phục vụ nhu cầu phát triển nông nghiệp, việc nghiên cứu đất đã hƣớng tới đánh giá đất đai. Nhờ vậy, lần đầu tiên bản đồ phần đất châu Âu nƣớc Nga đã đƣợc thành lập để phục vụ cho hƣớng nghiên cứu này vào đầu nửa sau thế kỷ XIX. Thời kỳ Dokuchaev đến giữa thế kỷ XX Đây có thể gọi là thời kỳ hƣng thịnh của việc nghiên cứu đất đai. Vào nửa sau thế kỷ XIX, nhờ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nổi tiếng nhƣ V.
Kotusev, thổ nhƣỡng học đã chính thức trở thành bộ môn khoa học độc lập, có vai trò quan trọng trong nghiên cứu để quy hoạch và phát triển KT – XH. Ở Hoa Kì trong giai đoạn này, các nhà khoa học đã tiếp tục phát triển hệ thống phân loại đất. Coffey (1912) đã đề nghị phân chia đất làm 5 nhóm đất lớn.Marbut đã đề xuất hệ thống phân loại sắp xếp theo các cấp từ đơn vị đất (soil unit) đến biểu loại (series). Kellogg và Smith là những nhà khoa học kế tục xây dựng phân loại đất ở Hoa Kì.
Ở Tây Âu, cũng có một số nhà khoa học đất đã có đóng góp lớn trong công tác nghiên cứu đất nhƣ Fally (1857), Forder (1863), Knop (1871)… Đến giữa thế kỷ XX, J. Phân loại dựa vào tác động tƣơng hỗ các nhân tố hình thành đất tự nhiên dẫn tới sự hình thành một loại đất nhất định. Hệ thống phân loại đất này phản ánh đầy đủ và chính xác qui luật địa lý tự nhiên. - Phân loại của Tây Âu và Hoa Kì cùng dựa trên hiệu quả sử dụng đất.
Dựa vào tính chất của đất (đƣợc quyết định bởi tính chất của đá mẹ) hoặc dựa vào TPCG của đất (quan tâm đến năng suất cây trồng). Trong thời kỳ này hệ thống phân loại đất còn mang tính khái quát, chƣa thực sự thống nhất phƣơng pháp và nguyên tắc trong hệ thống phân loại đất. Thời kỳ nửa cuối thế kỷ XX Trong thời kỳ này đã xuất hiện thêm các hệ thống phân loại đất, dựa trên các kết quả nghiên cứu của các nhà Thổ nhƣỡng học ở Liên Xô cũ trƣớc đó: Hệ thống phân loại đất của Liên Xô cũ dựa trên lý thuyết quy luật và phát sinh thổ nhƣỡng e 7 trên các vùng lãnh thổ khác nhau của Dokuchaev. Hệ thống phân loại này đƣợc sử dụng rộng rãi trong các cuộc điều tra cho phát triển nông nghiệp ở Liên Xô cũ, Đông Âu và các nƣớc châu Á, châu Phi.
Tƣơng tự, thời kỳ này hệ thống phân loại của ngƣời Pháp cũng gần giống với phân loại của Liên Xô cũ. Nhằm hƣớng đến hệ thống phân loại đất thống nhất trên toàn thế giới, từ thập niên 60 của thế kỷ XX, nhiều trung tâm nghiên cứu đã hình thành nhằm xây dựng bản đồ thổ nhƣỡng chung cho thế giới với hệ thống phân vị thích hợp, trong đó phải kể đến hai Trung tâm Soil Taxonomy (Bộ Nông nghiệp Hoa Kì) và Trung tâm FAO – UNESCO. - Trung tâm Soil Taxonomy: Dựa vào phƣơng pháp chuẩn đoán định lƣợng, trung tâm đã cho ra đời hệ thống phân loại với thuật ngữ riêng (Hệ thống phân loại đất của Hoa Kỳ - USA Taxonomy). Đây là hệ thống phân loại mở có thể bổ sung thêm các đơn vị hiện có, đƣợc đặt tên theo dạng ghép từ với thuật ngữ Latinh, đƣợc cấu trúc theo các bậc phân loại với các chỉ tiêu hóa – lý định lƣợng thông qua các tầng chuẩn hóa đoán.
- Trung tâm FAO – UNESCO: Trên cơ sở vận dụng phƣơng pháp định lƣợng của Trung tâm Soil Taxonomy, có thể xem xét các quá trình phát sinh thổ nhƣỡng, trung tâm đã xây dựng hệ thống phân loại và thuật ngữ về đất đai mang tính hòa hợp, nhằm sử dụng chung cho toàn thế giới và bản đồ đất thế giới tỉ lệ 1:5.000 đã đƣợc biên tập xuất bản, tuy nhiên bản chú giải đƣợc nghiên cứu bổ sung nâng cao cho từng thời kỳ. Sau đó công tác lập bản đồ đất ở các tỷ lệ khác nhau đã đƣợc triển khai ở hầu hết các nƣớc trên thế giới. Ở Việt Nam Với mục tiêu phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, từ thời kỳ Pháp thuộc đã có những nghiên cứu về đặc điểm, tính chất của đất cho phát triển nông nghiệp. Trên toàn vùng Đông Dƣơng, Viện nghiên cứu N-LN đã triển khai các nghiên cứu tổng quát về các vùng đất mới, nhằm thiết lập các đồn điền cây công nghiệp.
Đồng thời, các cơ quan canh nông của Pháp cũng tiến hành khảo sát và công bố kết quả vào năm 1890, đây đƣợc xem là tài liệu tham khảo quý về tài nguyên đất của các nƣớc Đông Dƣơng nói chung và Việt Nam nói riêng. Đến đầu thế kỷ XX đã có sự chi tiết hơn về đặc điểm, tính chất của đất trong các công trình nghiên cứu đƣợc tiến hành ở một số khu vực, lãnh thổ cụ thể. Điển hình, Jve Henry (1930) đã nghiên cứu về điều kiện phát sinh, phát triển của đất đỏ và đất phèn trên đá bazan, đồng thời khoanh vùng phân bố giúp cho việc mở rộng e 8 các đồn điền cao su, cà phê và một số cây lâu năm khác một số vùng, lãnh thổ ở nƣớc ta. Tiếp theo đó là Castagnol (1934, 1951, 1952) đã công bố công trình nghiên cứu chuyên sâu về các loại đất và sử dụng đất: Đất phèn, đất đỏ phát triển trên đá mẹ ở Tây Nguyên, nghiên cứu các đặc tính cơ bản của đất ở Bắc Kỳ, Bắc Trung Kỳ và bản đồ đất ở đồng bằng sông Hồng.
Từ giữa thế kỷ XX trở đi, các công trình nghiên cứu về đất đai có đã cơ sở khoa học, tức là có phƣơng pháp và đối tƣợng cụ thể. Công tác phân loại đất ở Việt Nam đƣợc bắt đầu sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954). Từ năm 1958 - 1975, các nghiên cứu về đất tập trung chủ yếu vào phân loại đất và thành lập bản đồ đất ở cấp vùng, lãnh thổ tuy nhiên công tác đánh giá chƣa đi vào hệ thống và chƣa nghiên cứu cụ thể về nông hóa cho phát triển nông nghiệp. Các công trình tiêu biểu trong thời kỳ này: - Ở miền Bắc, với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô V.Friland năm 1958, nƣớc ta đã triển khai nghiên cứu phân loại đất.
Đến năm 1959, sơ đồ thổ nhƣỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:1.000 và bảng phân loại đất ở miền Bắc Việt Nam đƣợc công bố. Sau năm 1964, nhiều công trình nghiên cứu phân loại đất cho các vùng, tỉnh, huyện, xã… đƣợc triển khai và kết quả phân loại đã đƣợc thể hiện trên hệ thống các bản đồ đất từ tỷ lệ trung bình đến tỷ lệ lớn và chi tiết hơn. - Ở miền Nam, vào những năm 60, F. Morman (chuyên gia khoa học đất của FAO) đã xây dựng bảng phân loại đất dùng cho sơ đồ đất miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1:1.
Từ sau năm 1975, công tác điều tra phân loại xây dựng bản đồ phát triển mạnh nhằm phục vụ quy hoạch phát triển chung và khai thác các vùng đất mới. Các nhà khoa học đất Việt Nam đã nghiên cứu và xây dựng hệ thống phân loại đất cho các bản đồ đất tỷ lệ trung bình, lớn. Hệ thống phân loại này đã triển khai khắp các tỉnh trên toàn quốc. Các công trình nghiên cứu có giá trị phải kể đến trong thời gian này là: - Năm 1976, bản đồ đất Việt Nam đã đƣợc thành lập do Ban biên tập bản đồ đất Việt Nam thực hiện.
- Năm 1978, hệ thống các bản đồ đất ở phía Nam phân theo lãnh thổ cấp huyện tỷ lệ 1:25.000, cấp tỉnh tỷ lệ 1: 100.000 và cấp vùng tỷ lệ 1:250.000 đƣợc Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp triển khai thực hiện.