phần mở đầu, ba chƣơng và phần kết luận. Những vấn đề lí luận về đánh giá tác động dự thảo văn bản quy phạm pháp luật 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2. Thực trạng đánh giá tác động dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ở nƣớc ta trong thời gian qua. Nâng cao hiệu quả đánh giá tác động dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Khái niệm chung 1. Văn bản QPPL và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Văn bản pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật nói riêng là công cụ quan trọng hàng đầu trong thực hiện quản lí nhà nƣớc, đồng thời cũng là văn bản ghi nhận, bảo đảm quyền công dân, duy trì trật tự xã hội và là động lực của sự thịnh vƣợng chung. Văn bản quy phạm pháp luật có tác động sâu rộng đến đời sống xã hội, ảnh hƣởng lớn đến xu hƣớng phát triển và tồn tại của xã hội.
Văn bản quy phạm pháp luật là sản phẩm của một công nghệ, công nghệ làm luật, vì vậy chất lƣợng và hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật cũng đồng thời phản ánh trình độ và mức độ phát triển, chất lƣợng của công nghệ ấy. Theo Điều 1, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nƣớc ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”. Từ khái niệm trên có vài đặc điểm của văn bản QPPL đƣợc rút ra: (i) chủ thể ban hành phải có mặt cơ quan nhà nƣớc trong vai trò chủ thể duy nhất hoặc phối hợp, không có cá nhân, dù là cá nhân có thẩm quyền riêng trong cơ quan nhà nƣớc, đƣợc ban hành văn bản QPPL, dù ngay tại Điều 2 luật này quy định nhiều loại văn bản QPPL do cá nhân có thẩm quyền ban hành; (ii) trình tự, thủ tục ban hành văn bản phải tuân thủ theo quy định của luật (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Ban hành văn bản quy phạm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân), mặc dù chƣa có luật cứ thuyết phục nào về việc phải tách riêng hai loại văn bản này, cùng là văn bản QPPL; (iii) tính áp dụng nhiều lần và bắt buộc thực hiện bằng quyền lực nhà nƣớc, các quy định này mang tính quy phạm, đƣa ra các xử sự chung và đƣợc đảm bảo thực hiện trên thực tế bằng cƣỡng chế nhà nƣớc. Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, theo phạm vi nghiên cứu của luận văn, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đƣợc xem xét, đánh giá dƣới góc độ của RIA là các dự thảo luật, bộ luật, các nghị định của Chính phủ theo quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
Các văn bản quy phạm pháp luật này có tầm tác động, ảnh hƣởng đến toàn xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội trên phạm vi cả nƣớc, chính vì vậy, đó là các văn bản rất cần phải thực hiện RIA trong quá trình xây dựng, ban hành. Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật kể trên, văn bản quy phạm có phạm vi điều chỉnh trên cả nƣớc còn phải kể đến các văn bản nhƣ: Thông tƣ của Bộ trƣởng các bộ, quyết định của Tổng kiểm toán nhà nƣớc, thông tƣ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các thông tƣ liên tịch… (Điều 17 đến Điều 20 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008). Tuy vậy, xét về tính chất, các quy định đó thƣờng là những quy phạm chuyên sâu, không đƣợc đƣa vào phạm vi nghiên cứu của luận văn này. Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là một thuật ngữ pháp lí chƣa đƣợc định nghĩa một cách chính thức.
Ngay trong Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008, không có khái niệm về một dự thảo văn bản QPPL. Dự thảo văn bản QPPL trƣớc hết là một đề nghị pháp luật đƣợc đƣa ra bởi cơ quan/ngƣời có trách nhiệm để cơ quan lập pháp hoặc ngƣời có thẩm quyền lập quy ban hành, trở thành văn bản QPPL áp dụng chung cho các quan hệ xã hội mà nó hƣớng tới, điều chỉnh. Điều cần nhấn mạnh là, dự thảo văn bản QPPL không 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phải là một đề nghị pháp luật riêng lẻ, thông thƣờng theo cách hiểu của ngôn ngữ cuộc sống, hơn thế, đó là một chỉnh thể văn bản đƣợc sắp xếp theo cấu trúc pháp lí, một đạo luật của tƣơng lai. Thông thƣờng, cơ quan/ngƣời có trách nhiệm đề xuất một dự luật hay một văn bản QPPL có thể chủ động đề nghị hoặc đƣợc chỉ định thực hiện soạn thảo để thực hiện công việc của mình, soạn thảo ra một dự luật hay một dự thảo văn bản QPPL.
Dự thảo văn bản QPPL chứa đựng các QPPL đƣợc ngƣời soạn thảo đề xuất, nó là cơ sở ban đầu đề cơ quan lập pháp, ngƣời có thẩm quyền lập quy đƣa ra thảo luận, nhận xét, đánh giá, góp ý trƣớc khi chính thức thừa nhận, thông qua, ban hành để trở thành văn bản QPPL. Đánh giá tác động dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Đánh giá tác động pháp luật, là một khái niệm mới ở Việt Nam, đƣợc tiếp thu từ quy trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Với ý nghĩa chung nhất, RIA là phƣơng pháp đánh giá chi phí, lợi ích của những tác động có thể xảy ra đối với các nhóm trong xã hội, các khu vực, hoặc toàn bộ xã hội và nền kinh tế từ sự thay đổi chính sách pháp luật, đƣợc thực hiện trong quá trình làm luật, sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật hoặc ban hành chính sách mới. Đặc biệt, điều quan trọng, cơ bản nhất là nó đƣa ra nhiều giải pháp khác nhau; nghiên cứu, phân tích, đánh giá, so sánh tác động của các giải pháp, từ đó cung cấp thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền, để họ có thể lựa chọn đƣợc giải pháp tốt nhất.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam, yêu cầu về đánh giá tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật trong quy trình lập pháp đã đƣợc quy định trong một đạo luật - luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Lời lẽ, ý tứ của Luật cho thấy, các nhà soạn thảo chỉ đề cập đến việc áp dụng RIA đối với việc xây dựng một phƣơng án lập pháp mới, trong đó có cả 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phƣơng án sửa đổi. Nhƣng Luật không nói đến tiến hành RIA đối với văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành. Trong khi đó, ở nhiều nƣớc trên thế giới RIA có thể đƣợc tiến hành ở các công đoạn khác nhau.
Khi xem xét sự cần thiết ban hành văn bản, RIA đƣợc tiến hành để xác định các phƣơng án, so sánh tác động của chúng, từ đó xác định phƣơng án tối ƣu (ii). Trong quá trình soạn thảo dự thảo phƣơng án đã đƣợc lựa chọn, RIA đƣợc tiến hành để phân tích xem mục đích ban hành có đạt đƣợc một cách tối ƣu trong dự thảo hay không; các nhóm chịu sự điều chỉnh của văn bản có dễ dàng thực thi, tuân thủ không; mức độ mà văn bản làm giảm hoặc tăng gánh nặng đối với các nhóm chịu sự điều chỉnh của văn bản đó; (iii). Sau khi văn bản đƣợc ban hành, RIA đƣợc thực hiện để đánh giá tác động thực tế của một văn bản đang có hiệu lực so với các tác động đƣợc dự tính để xác định văn bản đó đạt đƣợc mục tiêu đề ra không, có cần sửa đổi không, sửa đổi ở mức nào… RIA là một công cụ không thể thiếu đối với quy trình làm luật ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở Anh và một số nƣớc châu Âu, đánh giá tác động điều chỉnh (RIA) là một yêu cầu bắt buộc khi đem dự thảo luật ra xem xét thông qua hoặc không thông qua.
Bộ trƣởng hoặc thủ trƣởng các cơ quan chịu trách nhiệm chính đối với dự luật phải ký vào bản RIA và luôn đi kèm cùng với bản dự thảo văn bản pháp luật. RIA là một bộ khung (Framework) để đánh giá những tác động có nhiều khả năng xảy ra (likely impacts) của sự thay đổi về chính sách và lựa chọn giải pháp để thực hiện nó. RIA đƣợc xác định là một công cụ linh hoạt và toàn diện để xem xét các vấn đề sau: 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xác định hình thức của văn bản ban hành. Thông qua RIA, giúp chúng ta xác định hình thức văn bản cần đƣợc ban hành để điều chỉnh là luật, đạo luật hay các văn bản dƣới luật, hoặc chỉ là một văn bản hành chính thông thƣờng, hoặc là không nên ban hành văn bản mới điều chỉnh mà chỉ sửa đổi, bổ sung văn bản đã đƣợc ban hành trƣớc đó; - Liệt kê đầy đủ các tác động tiềm năng - đối với kinh tế, xã hội và môi trƣờng; - Đối tƣợng có thể chịu ảnh hƣởng - tác động đến khu vực nhà nƣớc (nhƣ các cán bộ, công chức, các cơ quan nhà nƣớc, các cơ quan của Đảng) các doanh nghiệp, các tổ chức hiệp hội tự nguyện hay các cá nhân cụ thể; - Vấn đề ban hành, tuyên truyền, tổ chức thi hành và bảo đảm thi hành.
RIA là công cụ chủ yếu cho việc xây dựng chính sách. Tuy nhiên, RIA là công cụ trợ giúp cho việc xây dựng chính sách chứ không phải là công cụ thay thế nó (không nên nhầm lẫn giữa RIA với đề xuất chính sách hoặc với tờ trình trƣớc khi đề xuất). RIA tập hợp và trình bày các chứng cứ để xác định việc lựa chọn chính sách có thể đƣợc và hành và các ƣu, nhƣợc điểm của chúng. RIA cần đƣợc thực hiện song song với việc nêu sáng kiến lập pháp, lập quy và đƣợc lồng ghép vào quy trình xác lập chính sách của các bộ, ngành… hoặc chủ thể khác khi đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định.