Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN Mục tiêu của chương là trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu 1 và 2, đã được chúng tôi nói đến ở trên. Để trả lời hai câu hỏi đó, trước hết chúng tôi cần làm rõ các khái niệm NL, đánh giá NL, NL MHH. Sau đó chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu cấu trúc của NL MHH, các yếu tố cốt lõi của NL MHH và các quan điểm, phương pháp đánh giá NL này. Kết quả nghiên cứu ở đây là cơ sở để chúng tôi đề xuất các tiêu chí đánh giá phù hợp cho NL này.
Năng lực là gì? “Khái niệm NL có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia”. Trong tiếng Anh, NL gắn với những thuật ngữ như: capability, ability, competency, capacity, possibility. Tùy thuộc vào lĩnh vực và mục đích sử dụng, ứng với từng tình huống và ngữ cảnh riêng, mà người Anh và các nước nói tiếng Anh lựa chọn thuật ngữ phù hợp. Trong tiếng Việt, nghĩa của NL được hiểu qua tổng hợp nghĩa của nhiều từ: tiềm năng, khả năng, kĩ năng, tài năng… (Tham khảo Bùi Minh Đức, 2013, tr.
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về NL, chúng tôi tạm phân loại chúng thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất: nhấn mạnh đặc điểm, phẩm chất hoặc thuộc tính cá nhân Đây là cách định nghĩa của phần lớn tác giả trong nước và các nhà tâm lí học. Dưới đây chúng tôi trích dẫn vài định nghĩa làm ví dụ: - Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 3, tr.41): “NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó”.A Rudich, “NL là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định” (dẫn theo Nguyễn Trọng Khanh, 2011, tr. - Chương trình giáo dục tổng thể do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 26/12/2018 thì định nghĩa: “NL là thuộc tính cá nhân hình thành, phát triển nhờ tố 13 chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” (Chương trình giáo dục tổng thể, 2018, tr.
Nhóm thứ hai: Định nghĩa dựa trên khả năng, kĩ năng Phần lớn tài liệu nước ngoài định nghĩa NL thuộc nhóm này. Ví dụ: - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm NL là “khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002, tr.Weinert cho rằng NL là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp” (dẫn theo Hoàng hòa Bình, 2015, tr. Nhiều tác giả khác cũng định nghĩa NL dựa trên khả năng, KN (như Gerard và Roegiers (1993), De Ketele (1995), … Tuy nhiên, ở đây các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng NL không chỉ đơn thuần là “khả năng, KN”, mà phải kết hợp với yếu tố “hành động”. Vì nếu chỉ xem NL đơn thuần là “khả năng”, thì nó chỉ là cái “có thể xảy ra”, có thể chỉ là tiềm năng, là cái ẩn giấu bên trong, chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực… So với KN, NL lại có phạm vi nghĩa rộng hơn.H Salganik nói rõ: “NL không chỉ là kiến thức và kĩ năng, nó nhiều hơn thế.
NL bao gồm khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động các nguồn lực tâm lý (bao gồm cả kĩ năng và thái độ), trong một hoàn cảnh cụ thể” (dẫn theo Bùi Minh Đức, 2013, tr. Blomhoj và Jensen cũng có quan điểm tương tự khi cho rằng “NL của một người nào đó thể hiện sự sẵn sàng hành động để đương đầu với những thách thức trong một tình huống nhất định” (Blomhoj & Jensen, 2006, tr. Như vậy, trong định nghĩa của tác giả nước ngoài, thuật ngữ “khả năng” luôn đi kèm các cụm từ “đáp ứng một cách hiệu quả”, “hành động, thành công và tiến bộ”,.để nhấn mạnh khả năng đó phải chắc chắn dẫn đến việc thực hiện thành công một nhiệm vụ cụ thể (tham khảo Hoàng Hòa Bình, 2015, tr. 14 Tóm lại, dù có nhiều quan niệm về NL khác nhau, nhưng hầu hết các tác giả công nhận hai đặc trưng cơ bản của NL là: 1) Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động (hành động, công việc).
2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả (thành công, chất lượng cao). Khi nói đến một NL cụ thể, có thể định nghĩa NL là tập hợp các KN thực hiện hay giải quyết một tình huống vạch ra trong một bối cảnh cụ thể. Kĩ năng và tình huống ấy phải gắn liền với kiến thức (hay nội dung) cụ thể. Cấu trúc của năng lực Để hình thành, phát triển và đánh giá NL, cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng.
Có nhiều cách khác nhau để mô tả cấu trúc NL. Tác giả Hoàng Hòa Bình (2015) cho rằng có hai hướng tiếp cận cấu trúc NL, một theo nguồn lực hợp thành và một theo NL bộ phận. Tiếp cận cấu trúc của NL theo nguồn lực hợp thành Nhiều tác giả cho rằng NL được cấu thành từ nguồn lực hợp thành chính là tri thức, KN, thái độ. Các nguồn lực này có sự thể hiện trong hoạt động là NL hiểu, NL làm, NL ứng xử.
Đó là mối quan hệ giữa nguồn lực (đầu vào) với kết quả (đầu ra), nói cách khác là giữa cấu trúc bề mặt với cấu trúc bề sâu của NL, được thể hiện qua sơ đồ dưới đây. Cấu trúc NL (Hoàng Hòa Bình, 2015) Bàn về sơ đồ đó tác giả Hoàng Hòa Bình (2015) cho rằng việc nhận thức được mối quan hệ giữa hai cấu trúc bề mặt và bề sâu có ý nghĩa rất lớn trong giáo dục, vì “Nếu chỉ tập trung vào mục tiêu cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và tổ chức đánh giá những mặt đó thì mới chỉ dừng lại ở đầu vào. Một 15 chương trình phát triển NL phải nhằm hình thành, phát triển và kiểm soát được, đo lường được các chỉ số ở đầu ra” (Hoàng Hòa Bình, 2015, tr. Tiếp cận cấu trúc NL theo NL bộ phận Tổng hợp tài liệu hội thảo “Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển NL HS” của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành năm 2014 (trang 56) và công trình của tác giả Nguyễn Lan Phương (2015), chúng tôi thấy có cách tiếp cận NL theo NL bộ phận.
Trong cách tiếp cận này, mỗi NL gồm có ba thành phần chính: - Các hợp phần của NL (Components of Compentency) mô tả một hoặc nhiều hoạt động thuộc lĩnh vực chuyên môn tạo nên NL, thể hiện khả năng tiềm ẩn của con người. - Các thành tố NL (Elements of Competency) là các NL hoặc KN cơ bản tạo nên mỗi hợp phần. - Các tiêu chí thực hiện (Performance Criteria)/ hành vi (behaviour) là bộ phận chia tách từ mỗi thành tố, chỉ rõ mức độ yêu cầu cần thực hiện của mỗi thành tố, thường mô tả kết quả các hành động, thao tác, chỉ số cần đạt. Trước hết, mỗi NL chung hoặc đặc thù đều được phân tích thành các NL bộ phận, gọi là hợp phần.
Tiếp theo, dựa trên các KN cơ bản tạo nên mỗi hợp phần, ta lại phân tích hợp phần thành các NL bậc thấp hơn, gọi là thành tố. Tiếp tục phân tích chi tiết các thành tố cho đến khi xác định được những hành vi chúng thể hiện ra bên ngoài (còn gọi là biểu hiện cụ thể). Căn cứ trên các hành vi hay biểu hiện cụ thể này để xây dựng các tiêu chí chỉ rõ mức độ, yêu cầu thực hiện của mỗi thành tố hay nói cách khác là căn cứ để đánh giá NL. Ví dụ NL toán học có thể được chia làm năm hợp phần là: NL tư duy và lập luận toán học; NL MHH; NL giải quyết vấn đề toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán.
Như vậy NL MHH là một hợp phần của NL toán học. NL hợp phần này lại có thể phân tích thành năm thành tố như: NL hiểu vấn đề thực tế và xây dựng mô hình mô tả vấn đề thực tế; NL xây dựng mô hình toán học dựa trên mô hình mô tả vấn đề thực tế; NL giải quyết các vấn đề toán học trong mô hình toán; NL chuyển (phiên dịch) kết quả toán học về kết quả của mô 16 hình mô tả vấn đề thực tế và thực tế; NL đánh giá kết quả và nếu cần chỉnh sửa mô hình. Phần lớn các tác giả trong nước sử dụng các thuật ngữ này để phân tích NL. Khi đánh giá NL thì việc phân chia theo cấu trúc này có thể gặp một số sự trùng lặp chồng chéo.
Chẳng hạn, có thể có trường hợp một thành tố cùng thuộc hai hợp phần khác nhau. Ví dụ: NL hiểu vấn đề thực tế và xây dựng mô hình mô tả vấn đề thực tế (là một thành tố) có thể nằm trong cả hai hợp phần của NL toán học, là NL MHH và NL giải quyết vấn đề toán học. Hay trong một cùng một hợp phần cũng có thể có một KN thành phần có mặt trong hai thành tố. Tương tự như vậy, hai thành tố khác nhau có thể giống nhau ở một hay nhiều hành vi biểu hiện.
Tham khảo thêm một số công trình nước ngoài, chúng tôi thấy chưa có sự rõ ràng trong việc sử dụng các từ ngữ liên quan đến hợp phần, thành tố, hành vi, NL thành phần, KN thành phần…của NL. Nhưng, để giảm bớt sự phức tạp khi đánh giá NL, hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ chia cấu trúc NL thành hai cấp độ: thứ nhất là thành tố (gồm một hoặc nhiều KN) - xem nó như là các NL thành phần; thứ hai là hành vi (hay biểu hiện cụ thể), xem nó như tiêu chí để đánh giá NL. Đánh giá năng lực 1. Một số điểm mấu chốt trong đánh giá năng lực Đánh giá chú trọng cả quá trình NL không hình thành được trong chốc lát mà phải rèn luyện cả quá trình, nên phải đánh giá quá trình kết hợp đánh giá tổng kết.
Đánh giá quá trình cần được coi trọng vì đó là nguồn thông tin phản hồi phong phú, kịp thời, thường xuyên cho GV và HS.