mở đầu các nghiên cứu về chọn giống bạch đàn kháng bệnh nước ta. Bước đầu đã tìm hiểu được các loài nấm hại điều tra đánh giá mức độ nhiễm bệnh và ảnh hưởng của loài cũng như xuất xứ cũng như hộ gia đình có nấm bị hại. Các kết quả đầu tư của dự án được báo cáo tại hội thảo dự án bệnh bạch đàn được tổ chức vào tháng 11 năm 2000 tại Thành Phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000); Phạm Quang Thu (2000) [7]. Từ đầu những năm 1980 trở lại đây nhiều loài đã được nhập về đây trồng thử nghiệm nước ta như Keo tai tượng (A.
magium), Keo lá liềm (A. crassicarpa), Keo đa thân (A. aulacocarpa), Keo bụi (A. cincinnata), Keo lá sim(A.
holosericea) và sau này là Keo lai tự nhiên được phát hiện và chủ động lai tạo (Sedgley et al., 1992) e 10 Mùa xuân năm 1990 các xuất xứ Keo tai tượng và Keo lá chàm gieo tại vườn ươm Chèm, Từ Liêm, Hà Nội đã bị bệnh phấn trắng với các mức độ khác nhau. Nhìn bề ngoài lá Keo như bị rắc một lớp phấn trắng hay vôi bột. Mức độ bệnh đã được đánh giá quan sát bằng mắt thường và được xếp theo thứ tự nặng hay nhẹ. Nhìn chung bệnh chưa gây ra ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng của cây con tại vườn ươm và khi đó cũng không có điều kiện để tìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc bệnh và các vấn đề có liên quan (Nguyễn Hoàng Nghĩa 1997).[8] Một vài năm trở lại đây diện tích gây trồng Keo đã tăng lên đáng kể (gần 230000 ha vào cuối năm 1999) thì cũng đã xuất hiện rừng trồng.
Tại Bầu Bàng Bình Dương một số dòng Keo lai đã mắc bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỉ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh khá cao gây thiệt hại cho sản xuất. tại Kom Tum năm 2001 có khoảng 1000 ha rừng Keo lai 2 tuổi bị mắc bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn. Tỷ lệ nặng nhất là ở Ngọc Tú, Ngọc hồi (Kom Tum) lên đến 90% số cây bị chết ngọn. Nghiên cứu về nấm Ceratocystis Ở nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho nhiều loài nấm phát triển đặc biệt là Ceratocystis đã bắt đầu xuất hiện trên cây Keo tại một số nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh.
Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, xì nhựa mủ ở vỏ, toàn bộ những cây bị nhiễm bệnh chỉ sau một thời gian ngắn là chết ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rừng trồng Keo. Theo kết quả điều tra bệnh hại rừng trồng mới được thực hiện năm 2010 và năm 2011 tại Thừa Thiên Huế cho thấy trên các diện tích rừng trồng Keo e 11 tai tượng, Keo lá tràm và Keo lai ở một số địa phương của Tỉnh đã xuất hiện hiện tượng cây keo chết héo với tỷ lệ 5-7%. Bệnh hại keo ở Thừa Thiên Huế được xác định là một loài nấm thuộc chi Ceratocystis. Các loài nấm thuộc chi này không phải mới xuất hiện ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu trước đây đã ghi nhận loài nấm Ceratocystis fimbriata gây bệnh thối mốc mặt -cạo cây Cao su (Hội Nông dân Việt Nam, 2011).
Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh + Biện pháp canh tác: Chăm sóc cây đầy đủ, cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho vườn cây; Sau khi thu hoạch, tiến hành cắt tỉa và tiêu huỷ những cành sâu bệnh, cành vô hiệu bên trong tán, vệ sinh vườn sạch sẽ.; Bệnh có thể lây lan qua dụng cụ cắt tỉa, do đó sau mỗi lần cắt tỉa cũng như khi sử dụng dụng cụ từ cây bị bệnh sang cây khoẻ nên khử trùng dụng cụ bằng cách ngâm dụng cụ trong dung dịch cồn 900 trong 10 phút nhằm tiêu diệt mầm bệnh cũng như tránh sự lây lan; Cắt bỏ cành, cây bị bệnh nặng. Tiêu huỷ tập trung. Quét thuốc trừ nấm hoặc nước ngay vết cắt để tránh nhiễm bệnh ngay vết thương. Lưu ý: Nếu vết cắt vẫn còn ứa ra lớp nhựa đen có chứa bào tử nấm thì tiếp tục cắt sâu vào và tiếp tục quan sát cho đến khi vết cắt khô hẳn Rải vôi xung quanh tán cây, 2lần/năm (đầu mùa mưa và đầu mùa nắng); Không được chiết cành hoặc sử dụng mắt ghép (bo) trên cây nhiễm bệnh làm vật liệu ghép vì có nấm có khả năng lây nhiễm qua cách nhân giống bằng phương pháp vô tính.
Biện pháp sinh học: Bón phân hữu cơ, phân chuồng đã ủ hoai kết hợp với nấm đối kháng Trichoderma để cải thiện hệ vi sinh vật đất đồng góp phần làm giảm mầm bệnh lưu tồn trong đất. + Biện pháp hoá học: Phun thuốc diệt trừ kiến đen, mối và bọ cánh cứng trên cây, đối với việc khoanh vỏ xử lý ra hoa: Không nên mở vết khoanh e 12 quá lớn và nếu được có thể dùng thuốc trừ nấm (Coc 85, Mancozeb) quét quanh vết khoanh để hạn chế sự tấn công cuả bệnh. + Phun ngừa thuốc trừ nấm có phổ rộng như: Coc 85, Norshield, Zineb, Mancozeb hay Gomi, Pysaigon, Topsin-M, Agotop. Cây bị bệnh xử lý bằng Mancozeb (Dithane M45, Pencozeb), Carbendazim (Bavistin, Benzimidine).
Chú ý: Cần hạn chế gây vết thương trên cây đặc biệt là vào mùa mưa, khi khai thác hạn chế chặt gây tổn hại cho cây chưa khai thác, khi cắt tỉa cành nên dùng keo hay mỡ bò bôi kín vết cắt. Có thể sử dụng Norshield 86.2 WG, 50 g/30 lít nước phun kỹ trong tán cây, cành, thân chính để phòng bệnh. Tổng quan khu vực nghiên cứu a) Vị trí địa lý Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, có giới hạn địa lí: - 105017 - 106017 Kinh độ Đông - 21036 - 212056 Vĩ độ Bắc Khu vực tiếp giáp: -Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) - Phía tây giáp huyện Đồng Hỉ và huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên) - Phía nam giáp huyện Đồng Hỉ (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) - Phía Bắc giáp huyện Na Rì (tỉnh Bắc Cạn). Thị trấn Đình Cả, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 37 km và cách thị trấn Đồng Đăng - Lạng Sơn 80km Huyện gồm 14 xã và 1 thị trấn, trong đó có 6 xã vùng I, 3 xã vùng II, còn lại là 5 xã vùng III Diện tích tự nhiên của Võ Nhai là 845,1 km2.
b)Địa hình, đất đai, thổ nhưỡng +) Địa hình e 13 Huyện Võ Nhai nằm ở vị trí tiếp giáp của 2 dãy núi cao - Dãy Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đến Võ Nhai và Dãy Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam nên huyện có địa hình tương đối phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất ruộng ít. Là huyện có đại hình phức tạp, phần lớn là diện tích vùng núi đá vôi (chiếm 92%) những vùng đất bằng phẳng. Toàn huyện có độ cao trung bình từ 100-800m so với mực nước biển. Căn cứ vào địa hình huyện Võ Nhai được chia thành 3 vùng rõ rệt bao gồm: - Tiểu vùng 1(Vùng núi cao), gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn, địa hình cao dốc, phần lớn là núi đá vôi (72%), đọ dốc lớn (đa phần từ 250 trở lên).
Một số vùng dọc theo các khe suối và thung lũng có độ dốc từ 00 - 250 là vùng thích hợp để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp theo hướng nông, lâm kết hợp Nơi đây có khối núi đá vôi Thượng Nung đồ sộ nhất tỉnh Thái Nguyên, rộng tới 300 km2, độ cao từ 500 đến 600 m, kéo dài từ Thần Sa qua Nghinh Tường, đến Liêm Thuỷ (huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn). - Tiểu vùng II (Vùng thấp), gồm 3 xã: La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả, có địa hình tương đối bằng phẳng, được tạo nên bởi những thung lũng chạy dọc theo Quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi cao có độ dốc lớn. Đất đai vùng II chủ yếu sử dụng hết vào nông nghiệp. - Tiểu vùng III (Vùng gò đồi), gồm 5 xã : Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao, có nhiều đồi đất hình bát úp, bị chia cắt bởi các dòng sông, khe suối và xen lẫn núi đá vôi.
Các soi bãi bên song địa hình thấp và tương đối bằng phẳng hơn các xã vùng I. Độ dốc từ 10-200, có thể phát triển cây hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả. +) Đất đai Với diện tích đất tự nhiên là 845,1 km2, Võ Nhai có 561,27 km2 đất lâm e 14 nghiệp, 77,24 km2 đất nông nghiệp, 1,55 km2 đất nuôi trồng thuỷ sản, 22,13 km2 đất phi nông nghiệp và 182,92 km2 đất chưa sử dụng. Có thể thấy dù là một huyện có diện tích rộng lớn nhất tỉnh Thái Nguyên nhưng tiềm năng đất đai ở Võ Nhai không lớn, lại bị chia cắt mạnh.
Đất dành cho pháttriển đô thị và giao thông trở nên khan hiếm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố lại dân cư, khu cụm công nghiệp trong tương lai. Đất đai dành cho nông nghiệp ở Võ Nhai nhìn chung không có độ phì nhiêu lớn và đang bị suy thoái mạnh. Dù diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng hiện nay tài nguyên rừng ở Võ Nhai còn lại rất nghèo, phần lớn là rừng non mới phục hồi, mới trồng, trữ lượng còn thấp.1: Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp.
Diện tích hiện nay là: Trong đó : Huyện, thành, Tổng diện STT Xã Đất rừng Đất rừng Đất rừng thị tích đất lâm đặc dụng phòng hộ sản xuất nghiệp (ha) (ha) (ha) (ha) Tổng số 134 xã 179.264,99 +) Thổ nhưỡng Theo kết quả phúc tra theo phương pháp định lượng FAO/UNESCO do Viện Thiết kế xây dựng thực hiện thì toàn huyện có các nhóm đất sau: - Đất phù sa: 1.816 ha chiếm 2,15% diện tích - Đất đen: 935 ha chiếm 1,11% diện tích - Đất xám bạc màu: 63.917,7 ha chiếm 75,63% diện tích - Các loại đất khác: có 11.070,4 ha chiếm 16,65% diện tích. Nhìn chung Võ Nhai có nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng, song chủ yếu là e 15 đất đồi núi; những diện tích đất bằng phẳng phục vụ cho canh tác nông nghiệp rất thấp, đất ruộng lúa chỉ còn 2. c)Khí hậu, thủy văn +)Khí hậu Mặc dù điều kiện địa hình phức tạp bởi có 3 vùng khác nhau nhưng điều kiện khí hậu của huyện tương đối đồng nhất.