Chương 1: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO HỢP TÁC HÓA CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM TRONG NHỮNG NĂM 1958 - 1960 1. Chủ trương của Trung ương Đảng về hợp tác hóa 1. Tư duy về tập thể hóa trước năm 1958 Việt Nam vốn là một nước thuộc địa “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Trong Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng tại Hội nghị thành lập Đảng (1-1930) đã khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam đó là “làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[94,2].
Như vậy CNXH trở thành mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong đó độc lập dân tộc là mục tiêu trước mắt còn CNXH là phương hướng tiến lên. Đến tháng 10-1930, trong Luận cương Chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định tính chất của cách mạng Đông Dương là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản đế. Tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị làm XHCN. Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường XHCN.[94,93-94] Đi lên chủ nghĩa xã hội được xác định là phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Tuy nhiên cả Cương lĩnh Chính trị đầu tiên và Luận cương chính trị đều chưa đề cập cụ thể đến mô hình CNXH và những biện pháp cụ thể để xây dựng mô hình đó. Trong suốt thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc (1930-1945) và trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1949) nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu Đảng chưa thể tập trung trí tuệ để xây dựng đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên một số tư tưởng về xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ và hội nhập quốc tế cũng đã bước đầu được hình thành. Tháng 7-1947, khi trả lời một nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế, Người đã khẳng định: “Chúng tôi chủ trương làm cho tư bản Việt Nam phát triển.
Mà chỉ có thống nhất và độc lập thì tư bản Việt Nam mới phát triển. Đồng thời chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi. Một là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hòa kinh tế thế giới và giữ gìn hoàn bình”.[108,169-170] 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1950, trong quá trình chuẩn bị cho Đại hội lần thứ II của Đảng, vấn đề đường lối phát triển CNXH của Việt Nam mới được đặt ra. Và đến Đại hội lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam, đường lối phát triển CNXH ở Việt Nam được chính thức đề cập đến.
Trong báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội của Tổng Bí thư Trường Chinh đã khẳng định con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam là CNXH quyết không thể có con đường nào khác. Muốn tiến lên CNXH, nước Việt Nam phải trải qua ba giai đoạn: a) Giai đoạn tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân. b) Giai đoạn xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, triệt để thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng", hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân. c) Giai đoạn làm xong nhiệm vụ dân chủ nhân dân, gây đầy đủ điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
[95, 88] Trong giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ trung tâm của Đảng là đẩy mạnh việc kỹ nghệ hóa, phát triển kỹ nghệ nặng, phát triển thật rộng bộ phận kinh tế Nhà nước, tập thể hóa nông nghiệp dần dần, thực hiện những kế hoạch dài hạn để gây thêm và củng cố cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, đặng tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội. Những bước cụ thể của giai đoạn này phải tùy theo điều kiện cụ thể của tình hình trong nước và ngoài nước khi đó mà quyết định. Song một điều chắc chắn là chừng nào ta chưa chuẩn bị cơ sở kinh tế đầy đủ và chưa làm cho số đông quần chúng nhân dân nhận rõ chủ nghĩa xã hội là cần thiết, thì chủ nghĩa đó chưa thể thực hiện được. [95,92] Như vậy có thể thấy cho đến Đại hội Đảng lần thứ II, mô hình đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta mới được Trung ương Đảng bàn tới.
Để đi lên CNXH cách mạng Việt Nam phải trải qua ba giai đoạn cách mạng, ở mỗi giai đoạn có một nhiệm vụ trọng tâm nhất định. Ở giai đoạn đầu nhiệm vụ trọng tâm là giải phóng dân tộc, giai đoạn thứ hai là thực hiện nhiệm vụ cách mạng ruộng đất, và giai đoạn thứ ba là phát triển kinh tế nhà nước và tập thể hóa nông nghiệp gây dựng đủ mọi điều kiện để đưa nước ta đi lên CNXH. Tuy nhiên, Trung ương Đảng lúc này nhận định việc thực hiện tập thể hóa phải được tiến hành dần dần và từng bước. Trong thời kỳ cải tạo XHCN nền kinh tế vẫn là kinh tế dân chủ nhân dân với nhiều thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã, kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân và bộ phận kinh tế tư bản nhà nước.
Đảng không chủ trương đánh đổ kinh tế tư 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân và thành phần kinh tế cá thể. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế tư nhân còn tồn tại và phát triển trong một thời gian dài. Do đó cần có chính sách đúng mực với bộ phận sản xuất nhỏ và kinh tế tư bản tư nhân. Đối với kinh tế của nông dân lao động và của tiểu thương, tiểu chủ , phải đặc biệt giúp đỡ và hướng dẫn vào con đường hợp tác xã.
Đối với tư sản dân tộc, cũng phải giúp đỡ, khuyến khích họ bỏ vốn kinh doanh các ngành nghề có ích cho nền kinh tế quốc dân ”.[95,108] Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) kết thúc thắng lợi đã mở ra cho đất nước thời kỳ phát triển mới, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và định hướng đi lên con đường CNXH. Để củng cố miền Bắc về mọi mặt Trung ương Đảng chủ trương hoàn thành cải cách ruộng đất ở toàn miền Bắc đồng thời tiến khôi phục kinh tế, nâng cao sản xuất là để hàn gắn những vết thương chiến tranh. Tăng cường từng bước bộ phận kinh tế quốc doanh (trước hết là mậu dịch quốc doanh) và bắt đầu xây dựng bộ phận kinh tế hợp tác xã (trước hết là hợp tác xã cung tiêu ở nông thôn và hợp tác xã tiêu thụ ở thành thị). Đây là giai đoạn chuyển tiếp giữa hai thời kỳ cách mạng, mà nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành triệt để những nhiệm vụ của cách mạng dân chủ nhân dân, đồng thời tạo cơ sở ban đầu đưa miền Bắc đi vào con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Ngày 30 tháng 6 năm 1955, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 31–CTTW Về vấn đề củng cố và phát triển phong trào đổi công trong đó bàn đến con đường của cách mạng Việt Nam sau khi tiến hành xong cải cách ruộng đất: “Sau cải cách ruộng đất, sức sản xuất ở nông thôn đã được giải phóng và nông dân rất hăng hái sản xuất. Nhưng để cho nông dân cứ sản xuất riêng rẽ hay khuyến khích nông dân đi vào tập thể? Nhất định ta chọn con đường tổ chức nông dân lại, con đường duy nhất hợp với quyền lợi trước mắt và quyền lợi lâu dài của nông dân, đưa họ đi đến một đời sống ấm no, hạnh phúc. Không đi theo con đường đó, mà chỉ muốn làm ăn riêng lẻ thì sản xuất sẽ sút kém, một số trở thành phú nông và đa số nông dân có thể sẽ dần dần trở lại nghèo đói.[96, 418-419] Tuy nhiên Trung ương Đảng cũng xác định việc đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể phải đi dần từng bước, có kế hoạch, có lãnh đạo. Bước đầu của việc xây dựng nền kinh tế tập thể là vận động nông dân làm đổi công, tiến tới lập hợp tác xã, khi nào Nhà nước có máy móc cung cấp cho nông thôn thì hợp tác xã càng tiến lên 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nhưng từ nay đến ngày mai tươi đẹp đó, phải đấu tranh lâu dài và gian khổ, kiên nhẫn giáo dục nông dân đi dần vào con đường sản xuất tập thể.[96,419] Bước đầu đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể là tiến hành củng cố và phát triển các tổ đổi công. Phong trào đổi công, được xem là mấu chốt trong việc tổ chức và lãnh đạo sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn này [94, 420]. Hình thức tổ đổi công thời kỳ này tồn tại dưới hai hình thức là tổ đổi công từng vụ, từng và tổ đổi công thường xuyên trong đó tổ đổi công thường xuyên được xây dựng ở nơi tổ đổi công từng vụ, từng việc đã được phát triển. Ở những nơi phong trào đã rộng (ví dụ: nhiều xã giảm tô và cải cách ruộng đất) thì nặng về củng cố, ở những nơi phong trào còn mới (ví dụ vùng mới giải phóng) thì chú ý phát triển và phát triển đến đâu cũng phải củng cố đến đấy.
Xây dựng tổ đổi công phải dựa trên 3 nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản trị dân chủ. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (8-1955), trong Báo cáo của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị đã xác định đường lối phát triển nông thôn sau cải cách ruộng đất của ta là hướng dẫn kinh tế nông nghiệp tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội, qua vận động hợp tác xã mà chuyển dần kinh tế cá thể lên kinh tế tập thể có tính chất xã hội chủ nghĩa. Con đường của nông thôn từ sau khi cải cách ruộng đất đến lúc thực hiện nông nghiệp xã hội chủ nghĩa là một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, phức tạp. Phải đi dần từng bước, không thể nóng vội.
Với khẩu hiệu nắm vững lãnh đạo, tiến dần từng bước sau cải cách ruộng đất, để xây dựng nền kinh tế tập thể cần phải nắm ba việc: - Vận động tổ đổi công, - Vận động hợp tác xã mua bán, - Vận động hợp tác xã tín dụng.