CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LI ÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Ngôn ngữ thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ 1. Ngôn ngữ thơ Bản chất của nghệ thuật nói chung là sự sáng tạo. Văn học là loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu cơ bản để xây dựng hình tượng nghệ thuật.
Nói cách khác, văn chương là nghệ thuật ngôn từ. Trong đó, thơ ca là sự kết tinh và thăng hoa của nghệ thuật ngôn từ. Mỗi bài thơ là những ngôn từ sáng giá đứng trong một trật tự hoàn hảo (Coleritgiơ). Nói như Maiacôpxki: Qúa trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống như những người lọc quặng, lọc ra cái tinh chất.Thơ ca là cái tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, là cái ánh ngời phi thường của nó.
Ngôn ngữ trong thơ ca được tổ chức đặc biệt và có những cách biểu đạt độc đáo, khác thường về đời sống xã hội, về suy nghĩ, cảm xúc của con người.Trong sáng tạo thơ ca thì sự sáng tạo về ngôn ngữ có vị trí đặc biệt quan trọng. Cuốn Bách khoa thần học New Catholi đã chỉ ra “Thơ trước hết và cuối cùng là cuộc hành trình trọn vẹn của ngôn từ. Đối với người Hi Lạp, thi sĩ là người sáng tạo ra các ngôn từ”. Điểm qua một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra sự khác biệt giữa ngôn ngữ đời sống với ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi.
Ngôn ngữ nhân dân là tiếng nói nguyên liệu, còn ngôn ngữ văn học là tiếng nói được bàn tay thợ nhào nặn (M. Trong cuốn tiểu luận “Ngôn ngữ và thi ca”, Jakobson cho rằng cơ chế hoạt động của ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp: “chức năng của thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết hợp” [28]. Mặt khác, dựa trên những nguyên lí phổ quát về hoạt động của ngôn ngữ được F. de Sausure giới thiệu trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”, Jakobson khẳng định với thơ hình thức ngữ âm như âm vận, điệp âm, điệp vần, khổ thơ,.là vô cùng quan trọng.
Cách tổ chức những yếu tố thuộc phương diện hình thức này góp phần quan trọng vào việc tạo nên diện 7 mạo ngôn ngữ thơ. Nguyễn Phan Cảnh căn cứ vào hai thao tác hoạt động cơ bản của ngôn ngữ là thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp trong hệ hình để nhận diện cơ chế lựa chọn của ngôn ngữ thơ. Hữu Đạt trong một công trình nghiên cứu đã nhận thấy cách thức tổ chức ngôn ngữ thơ là “được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với cách tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ" [12]. Các tác giả khẳng định ưu điểm của phương thức lựa chọn và kết hợp giúp nhà thơ loại bỏ được trường nét dư, là cơ sở tạo nên các thể thơ và cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa đặc biệt trong thơ.
Từ những cách hiểu trên về ngôn ngữ thơ ca, ta có thể đi đến kết luận: Trong một phạm vi hẹp của thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngừ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo tổ chức riêng của thơ ca. Đặc trưng ngôn ngữ thơ Thơ là thể loại văn học có những đặc trưng riêng. Khi so sánh thơ với văn xuôi, người ta sẽ nhận ra sự đối lập giữa chúng ở nhiềù bình diện khác nhau. Xét ở bình diện ngôn ngữ, ta có ta có thể phân biệt thơ với văn xuôi trên ba cấp độ: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp.
Xem xét việc sắp xếp một cách đặc biệt các đơn vị ngôn ngữ trên các mặt: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp sẽ thấy rõ đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca. Về ngữ âm Trước hết, thơ là hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt mang thuộc tính thẩm mĩ về ngữ âm. Nói đến thơ là nói đến các yếu tố nằm trong sự vận dụng nghệ thuật hình thức âm thanh ngôn ngữ. Đó là sự hoà phối về âm thanh, là ngắt dòng, ngắt nhịp, là sự hiệp vần.
Thơ căn bản khác với văn xuôi ở tính nhạc nên các yếu tố ngữ âm trong thơ là hết sức quan trọng. Mỗi dòng thơ, câu thơ chứa trong bản thân nó một loại ngữ điệu đặc biệt, người ta gọi đó là nhạc thơ. Khi nhạc thơ của một thể thơ đạt đến tính ổn định và làm nên nét 8 khác biệt thì chúng trở thành âm luật của thể thơ đó. Ngôn ngữ trong thơ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm và chỉ trong thơ, mặt vật chất, mặt cấu âm của ngôn từ trở thành một chất liệu quan trọng.
Bởi thế, tính nhạc được xem là đặc trưng cơ bản cơ bản của ngôn ngữ thơ ca. Nhạc tính trong thơ được tạo nên bởi sự hòa phối các đơn vị âm thanh như thanh điệu, nguyên âm, phụ âm cùng với các thuộc tính âm thanh như cao độ, cường độ, trường độ của ngôn ngữ. Tiếng Việt vốn phong phú về thanh điệu (6 thanh); các thanh có phẩm chất về âm vực (cao / thấp) và đường nét (bằng phẳng /gãy); đa dạng về nguyên âm và phụ âm (13 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi, 22 phụ âm đầu, 8 âm cuối.) là cơ sở cho ngôn ngữ thơ ca Việt Nam mang “diện mạo” riêng về tính nhạc. Khai thác nhạc tính trong thơ, ta cần chú ý đến những sự đối lập sau: - Sự đối lập trầm - bổng, khép - mở của các nguyên âm.
- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các phụ âm cuối. - Sự đối lập cao - thấp, bằng - trắc của các thanh điệu. Cùng với đó, sự đối lập vần và nhịp cũng là yếu tố góp phần tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca. Sự hòa phối của các yếu tố ngữ âm này mang lại cho thơ âm hưởng diệu kì, lôi cuốn người đọc trong ma lực của âm thanh ngôn ngữ.
Thế giới tâm hồn của nhà thơ không chỉ được biểu hiện bằng ý nghĩa của ngôn từ mà bằng cả âm thanh, nhịp điệu của ngôn ngữ đó. Các đặc tính thanh học của ngôn ngữ ít được quan tâm trong văn xuôi nhưng với thơ chúng được tổ chức chặt chẽ, có chủ ý nhằm tạo hàm nghĩa và gợi ra những điều mà bản thân từ ngữ không truyền tải hết. Nói khác đi, trong thơ vừa có hình, vừa có nhạc. Nhạc tính là đặc thù của ngôn ngữ thơ ca, nó phổ biến trong mọi ngôn ngữ, đặc biệt với ngôn ngữ thơ Việt Nam.
Có thể lí giải điều này qua đoạn thơ sau trong bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu 9 Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân Đoạn thơ gợi ra những cảm giác tinh tế trong tâm hồn con người khi nghe tiếng “nguyệt cầm”. Sự giao thoa của những cảm giác làm toát ra một vẻ lạnh, cái lạnh thấu suốt và thấm sâu, nó “nhập” vào hồn người. Đoạn thơ gợi sự hình dung về một linh hồn nhạy cảm, bơ vơ đang đi tìm chỗ tựa nương, linh hồn ấy nhập vào “dây cung nguyệt lạnh” càng làm cho cảm giác lạnh lẽo tăng thêm. Nhưng đoạn thơ không chỉ đơn giản là cảm giác, dường như nhà thơ đang định lý giải “tại sao lại gọi là đàn nguyệt?”.
Người đọc có thể nhận thức nhiều tầng ý nghĩa qua ngôn từ đoạn thơ. Tuy nhiên, đoạn thơ không chỉ có hình mà còn có nhạc. Nhạc ở đây không phải là âm thanh của tiếng nguyệt cầm trong đoạn thơ mà đó là nhạc của thơ, của những âm, thanh, vần, nhịp cất lên bởi ngôn từ. Những câu thơ vừa lắng đọng, vừa ngân vang bởi sự phối thanh giữa các tiếng trong dòng thơ và giữa các dòng trong đoạn thơ.
Trong 28 tiếng của đoạn thơ, có 18 thanh bằng, 7 thanh trắc cao, 3 thanh trắc thấp hòa vận cùng nhau góp phần đưa cái trong của tiếng đàn lên đến đỉnh cao của nghệ thuật, đồng thời cũng đưa cái buồn của tiếng đàn xuống đến tuyệt đối. Hơn nữa, các giai điệu “trăng - đàn”, “đàn - trăng” cứ lặp đi lặp lại dễ gây cho ta cảm xúc buồn. Nếu như ở dòng thơ trên từ “ngần” đặt ở cuối câu là tiếng đàn dàn trải thì câu dưới từ “chậm” (thanh nặng) và cuối câu tiếp theo từ “lặng” (thanh nặng) và “buồn” (thanh huyền) làm cho tiếng đàn như nghẹn lại, buồn thảm hơn. Những điệp khúc ấy cứ xoáy vào tâm hồn ta, da diết, lắng sâu đến lạ kỳ.
Một yếu tố quan trọng nữa tạo nên nhạc tính của đoạn thơ đó là sự hiệp vần giữa các tiếng trong từng câu, hoặc giữa các câu. Đoạn thơ được Xuân Diệu xây dựng mang hình thức của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Nhà thơ tuân thủ luật hiệp vần của thể thơ này. Chỉ cần tiếng cuối của các dòng 2 và 4 hiệp vần với nhau (ngần, ngân) cũng đủ tạo nên tính nhạc cho đoạn thơ.
Hơn 10 nữa, nhạc của đoạn thơ được khởi phát từ sự phối hợp của các nguyên âm, đặc biệt là nguyên âm (a) ở dòng thơ thứ ba và các phụ âm đặc biệt là các phụ âm (tr, t) ở dòng thơ thứ nhất, thứ hai và thứ tư. Như đã nói ở trên, đoạn thơ mang dáng dấp của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt và Xuân Diệu đã vận dụng niêm luật của thể thơ một cách nhuần nhuyễn để tạo nên âm điệu cho đoạn thơ. Các tiếng trong mỗi dòng thơ theo luật là: nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh (tiếng thứ 1, thứ 3, thứ 5 bằng hay trắc cũng được ; tiếng thứ 2, thứ 4, thứ 6 bằng hay trắc phải rõ ràng, trong đó tiếng thứ 2, tiếng thứ 6 phải cùng thanh với nhau và trái thanh với tiếng thứ 4). Nhà thơ cũng tuân thủ tuyệt đối niêm thơ của thể thơ này.
Một niêm thơ được tính là một cặp câu thơ, bắt đầu từ câu thứ 2 với câu kế tiếp và cứ lần lượt như thế. Niêm bắt buộc tiếng thứ hai của từng cặp câu chẵn và lẻ bao giờ cũng phải cùng một thanh trắc hay bằng và cứ thế luân phiên nhau. Xuân Diêu viết: Trăng [thương], trăng nhớ, hỡi trăng ngần B Đàn [buồn], đàn nặng, ôi đàn chậm B Bắng cách đó, nhà thơ để cho dòng chảy âm thanh tuôn tràn trên từng câu chữ. Nhịp điệu (tiết tấu) của đoạn thơ vừa có sự kế thừa luật thơ truyền thống vừa có sự sáng tạo của nhà thơ.