CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC TỔNG THỂ, KHUNG KIẾN TRÚC TỔNG THỂ 1. Tổng quan về kiến trúc tổng thể 1. Các khái niệm Khái niệm kiến trúc tổng thể (EA - Enterprise Architecture) được ra đời từ những năm 80 của thế kỷ trước. Tuy nhiên, vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng, nhất quán và chính xác về khung kiến trúc tổng thể.
Kiến trúc tổng thể đã được nhiều tổ chức đầu tư nghiên cứu, phát triển, trong mỗi nghiên cứu, khái niệm kiến trúc tổng thể cũng được định nghĩa theo các cách khác nhau. Khái niệm về kiến trúc tổng thể được hiểu theo một số khái niệm như sau: + Kiến trúc tổng thể bao gồm tầm nhìn, nguyên tắc và các tiêu chuẩn hướng dẫn việc mua, triển khai công nghệ trong doanh nghiệp (Theo Forrester, Gene Leganza, 2001) + Kiến trúc tổng thể là quá trình dịch chuyển tầm nhìn và chiến lược kinh doanh làm thay đổi doanh nghiệp một cách hiệu quả bằng cách tạo ra, truyền tải, và cải thiện các nguyên tắc và các mô hình mô tả trạng thái cơ bản của doanh nghiệp trong tương lai và cho phép nó hoạt động (Theo Gartner Group). + Kiến trúc tổng thể là sự quản lý một cách tối đa sự đóng góp của các nguồn lực, đầu tư công nghệ thông tin và các hoạt động phát triển hệ thống để đạt được một mục đích chung. Kiến trúc mô tả rõ ràng mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và các mục tiêu cụ thể thông qua việc đầu tư cải thiện đo lường hiệu suất cho toàn bộ doanh nghiệp hay một phần doanh nghiệp (Theo US Federal EA).
+ Thiết kế nghiệp vụ và sự gắn kết hệ thống CNTT là một phần của Kiến trúc tổng thể. Các nhà kiến trúc tìm kiếm sự gắn kết giữa quy trình và cấu trúc doanh nghiệp để CNTT hỗ trợ hiệu quả. (Wegmann et al. + Mục đích chính của Kiến trúc tổng thể là thông báo, hướng dẫn và hạn chế các quyết định của doanh nghiệp đặc biệt là các đầu tư cho công nghệ thông tin (US Chief Information Officer Council).
14 + Kiến trúc tổng thể là sự hiểu biết về tất cả các thành phần khác nhau mà tạo nên doanh nghiệp và cách các thành phần này tương tác với nhau. + Kiến trúc tổng thể bao gồm tầm nhìn, nguyên tắc, các chuẩn và các quy trình nhằm hướng dẫn việc mua, thiết kế và triển khai công nghệ trong doanh nghiệp (Forrester Research). Dù được định nghĩa như thế nào thì về cơ bản Kiến trúc tổng thể cũng bao gồm các thành phần chính sau: i) Các bộ phận cấu thành nên hệ thống đó, ii) Quan hệ giữa các bộ phận với nhau và với môi trường ngoài và iii) Các nguyên tắc chỉ đạo việc thiết kế và phát triển các bộ phận đó (Theo ANSI/IEEE Std 1471-2000 ) Hay hiểu đơn giản: “kiến trúc của một tổ chức là bản thiết kế, quy hoạch tổng thể thống nhất từ đầu đến cuối cho toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển của tổ chức, hệ thống đó sau này”, bao gồm toàn bộ các thành tố xây dựng nên cơ cấu tổ chức, hệ thống thông tin, các quy trình nghiệp vụ, các ứng dụng, hệ thống phần cứng và tất cả các thành phần khác cấu thành nên hệ thống đó.2 Thành phần của kiến trúc tổng thể: Kiến trúc tổng thể được nhiều tổ chức nghiên cứu và đưa ra các khái niệm khác nhau nhưng xét về thành phần, hầu hết các kiến trúc tổng thể đều bao gồm những thành phần sau: 15 Hình 1.1: Các thành phần của kiến trúc tổng thể Kiến trúc Nghiệp vụ (Bussiness Architecture): bao gồm chiến lược phát triển, hệ thống quản lý, cơ cấu tổ chức và các quy trình nghiệp vụ chủ yếu của một hệ thống. Kiến trúc Dữ liệu (Data Architecture): cấu trúc các tài sản dữ liệu vật lý (văn bản, sách…) và logic (dữ liệu số hóa) của hệ thống và công cụ để quản lý các tài sản đó.
Kiến trúc Ứng dụng (Application Architecture): các phần mềm ứng dụng phải được sử dụng, tương tác giữa chúng với nhau và quan hệ của chúng với các quy trình nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống. Kiến trúc Công nghệ (Technology Architecture): mô tả hạ tầng phần cứng và phần mềm cần thiết để triển khai ba lớp kiến trúc nói trên, bao gồm: hạ tầng CNTT, các phần mềm lớp giữa, mạng truyền thông và các chuẩn.3 Tầm quan trọng của kiến trúc tổng thể Cũng giống như vai trò của kiến trúc trong xây dựng, kiến trúc tổng thể đóng một vai trò vô cùng to lớn trong việc xây dựng, cải tổ, phát triển của mỗi tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp. Kiến trúc tổng thể giúp cho các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp có được cái nhìn rõ ràng, tổng thể về mình, biết được cơ quan, tổ chức đang đứng ở đâu, muốn đi tới đâu. Tổ chức còn thiếu gì, còn cần gì, các dự án 16 triển khai có thực sự nằm trong quy hoạch chung hay chỉ là tạm thời, chắp vá.
Giữa các hệ thống có liên hệ, liên kết như thế nào…. Khi quy mô tổ chức còn nhỏ, vài trò của kiến trúc tổng thể là chưa rõ ràng, tất cả các nguồn lực cũng như các vấn đề phát sinh đều với số lượng không đáng kể, trực quan và không quá khó để kiểm soát. Tuy nhiên, khi một tổ chức phát triển lới hơn, quy mô hoạt động được mở rộng thì vai trò của kiến trúc tổng thể được thể hiện một cách rõ ràng. Lúc này, số lượng nguồn lực tăng cao, các vấn đề phát sinh trong nghiệp vụ nhiều và dễ dàng gây ra sự quá tải, mất kiểm soát; hệ thống thông tin ngày càng trở nên phức tạp, tốn kém, khó điều hành, khả năng đáp ứng kém.
Kiến trúc tổng thể giúp cho tổ chức: - Đồng bộ hóa CNTT với nghiệp vụ, mang lại sức mạnh tổng hợp từ các nguồn khác nhau, các bộ phận khác nhau của một tổ chức. - Tránh được việc đầu tư trùng chéo, lặp lại - Xây dựng được bộ tiêu chuẩn cho toàn bộ hệ thống, nên dễ dàng phối hợp, chia sẻ giữa các dự án cũng như mở rộng hệ thống. - Xây dựng được quy trình đầu tư rõ ràng, giảm bớt thời gian thực hiện đầu tư… Hình 1.2: Mục đích và lợi ích của kiến trúc tổng thể 17 1.4 Quy trình xây dựng kiến trúc tổng thể Hình 1. 3 cho ta thấy quy trình xây dựng kiến trúc tổng thể của một đơn vị, tổ chức.
Bao gồm 04 bước sau: Mô tả kiến trúc hiện tại (As-Is): Qua quá trình khảo sát và đánh giá hiện trạng, ta dựng lại kiến trúc hiện tại của hệ thống. Qua đó có thể xác định được vấn đề của hệ thống hiện tại. Mô tả kiến trúc tương lại (To-Be): Là kiến trúc cần đạt tới của tổ chức dựa trên Khung Kiến trúc, tầm nhìn của tổ chức và sự lựa chọn công nghệ. Phân tích khác biệt: Bằng việc so sánh kiến trúc hiện tại và kiến trúc tương lai, chúng ta tìm và phân tích các điểm khác biệt giữa chúng.
Các điểm khác biệt là căn cứ để chúng ta lập kế hoạch chuyển đổi. Kế hoạch chuyển đổi (Transition Plan): Từ kiến trúc hiện tại và kiến trúc tương lai, xây dựng các bước bao gồm các giải pháp, và trình tự, độ ưu tiên cần thực hiện để chuyển từ hiện tại sang kiến trúc tương lai.3: Quy trình xây dựng kiến trúc tổng thể 18 1. Tổng quan về khung kiến trúc tổng thể 1.1 Khung kiến trúc tổng thể là gì? Kiến trúc tổng thể của mỗi tổ chức, đặc biệt là các tổ chức lớn, bao gồm nhiều thành phần nhỏ, thậm chí mỗi đơn vị của tổ chức đó cũng có kiến trúc tổng thể của riêng mình, cho nên để tạo ra sự thống nhất, đảm bảo tính tương thích cao giữa các thành phần, các hệ thống con trong một tổ chức cần có khung kiến trúc Cũng giống như khái niệm kiễn trúc tổng thể, khái niệm khung kiến trúc cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Zachman định nghĩa khung như “một sơ đồ phân loại”; TOGAF lại coi khung là “một phương pháp chi tiết và bộ công cụ hỗ trợ để phát riển một kiến trúc” Roger Sessions coi khung kiến trúc “là một cấu trúc khung xương – skeleton structure”, Schekkerman coi đó là bộ phận thiết yếu “có thể phối hợp nhiều khía cạnh tạo nên bản chất cơ bản của doanh nghiệp một cách toàn diện”, hay trong định nghĩa của ISO/IEC/IEEE 42010 là “xác lập các quy định chung để tạo lập, giải thích, phân tích và sử dụng các kiến trúc trong một lĩnh vực phần mềm riêng biệt hoặc trong cộng đồng những người có liên quan”. Khung kiến trúc không phải là 1 kiến trúc duy nhất mà là một công cụ được sử dụng để xây dựng và phát triển kiến trúc.
Từ một khung kiến trúc người ta có thể tạo ra nhiều kiến trúc khác nhau. Theo thống kê của Iso-enterprise architecture, có khoảng 57 khung kiến trúc trên toàn thế giới và nổi tiếng nhất, được áp dụng phổ biến nhất phải kể đến khung kiến trúc TOGAF, ZACHMAN, FEAF.4 cho ta thấy tỷ lệ áp dụng các khung kiến trúc đối với các tổ chức, doanh nghiệp trên toàn thế giới. Phần sau chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về các khung kiến trúc này.4: Tỷ lệ áp dụng các khung kiến trúc 2.2 Lịch sử và phát triển của khung kiến trúc EA Kiến trúc hệ thống có thể coi như bắt đầu vào năm 1987 khi J.A Zachman viết bài báo “A Framework for Information Systems Architecture - Khung cho kiến trúc các hệ thống thông tin”. Năm 1994, Bộ Quốc phòng Mỹ phát triển khung kiến trúc kỹ thuật cho quản lý thông tin (TAFIM) – khung kiến trúc bị ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng của Zachman.
Đạo luật Clinger-Cohen được thông qua năm 1996 của Quốc hội Hoa Kỳ trong đó quy định các cơ quan liên bang phải nâng cao hiệu quả của đầu tư công nghệ thông tin đã tạo điều kiện chính thức cho sự phát triển của EA. Hội đồng CIO của Mỹ được thành lập và kết quả cho ra đời Khung Kiến trúc liên bang (FEAF).1 của khung kiến trúc này được phát hành năm 1999. FEAF cuối cùng phát triển thành các kiến trúc doanh nghiệp liên bang (FEA) dưới sự kiểm soát của Văn phòng Quản lý và Ngân sách (OMB). Năm 1998, bốn năm sau khi TAFIM được giới thiệu và hai năm sau khi nó được hệ thống hóa bởi Clinger-Cohen, TAFIM đã chính thức ngừng hoạt động và công việc thực hiện được chuyển giao cho Tập đoàn Open.
Họ đã thay đổi và phát triển phiên bản khung kiến trúc mở (TOGAF) đầu tiên từ dựa trên khung TAFIM đó. 20 Các kiến trúc E2AF, TEAF sau này đều chịu ảnh hưởng ít nhiều TOGAF.5 đưa ra một vài mốc phát triển của một vài phương pháp luận EA phổ biến: Hình 1.