MỞ ĐẦU 1. Đặt vẫn đề Máu là một dược phẩm quý giá mà tạo hóa đã ban tặng cho con người chúng ta và nguồn máu có được chỉ từ người cho người, cho đến nay chưa có dược phẩm nào thay thế máu để điều trị hiệu quả cho bệnh nhân. Tuy nhiên truyền máu là một phương thức trị liệu hiệu qua, nhưng truyền máu có thé gây ra cho người nhận nhiều tai biến khác nhau, trong đó có việc lây nhiễm các bệnh qua đường truyền máu. Vì vậy chúng ta muốn có được nguồn máu an toàn dé điều trị cho bệnh nhân thì việc sàng lọc các tác nhân lây nhiễm qua đường truyền máu là hết sức quan trong và can thiết, trong các tác nhân đó có vi rút HBV chiếm tỷ lệ rất cao [4].
Da phan tat cả các phòng xét nghiệm của các cơ sở y tế ở nước ta phan lớn chỉ sàng lọc máu băng phương pháp huyết thanh học thường quy: Phương pháp ELISA, hóa phát quang, điện hóa phát quang. Các phương pháp này còn nhiều hạn chế trong việc phát hiện sớm vi rút lây nhiễm qua đường truyền máu đặc biệt là vi rút trong giai đoạn cửa số nên chưa đảm bảo được an toàn cho bệnh nhân được truyền mau [9, LO]. Từ năm 1999 kỹ thuật xét nghiệm Nucleic acid (NAT) đã được triển khai tai nhiều nước phát triển mạnh (Nhật, Mỹ, Đức.) để hạn chế tối đa việc lây nhiễm các loại vi rút cho người nhận máu. Xét nghiệm NAT là kỹ thuật sinh học phân tử dựa trên nguyên lý phản ứng khuyếch đại nhân lên gấp bội các vật liệu di truyền có nguồn gốc từ các vi rút gây bệnh và tăng khả năng phát hiện sớm khi vi rút có quá ít trong máu.
Việc ứng dụng kỹ thuật xét nghiệm NAT giúp ngăn ngừa hữu hiệu nguy cơ lây nhiễm vi rút cho bệnh nhân trong giai đoạn cửa số. Kỹ thuật này cho phép rút ngăn thời gian cửa số từ 90 ngày xuống còn 30 ngày đối với HCV từ 60 ngày xuống còn 20 ngày với HBV, đặc biệt xét nghiệm NAT phát hiện vi rút HIV chi 11 ngày sau thời gian người cho máu nhiễm bệnh. Bên cạnh đó xét nghiệm NAT còn có thé phát hiện nhiễm virus thé ấn, tức là những người nhiễm bệnh một thời gian đài, nhưng vi rút chỉ tiềm tàng trong tế bào mà cơ thể người bệnh không sản sinh ra kháng thé nên các phương pháp huyết thanh học không thé phát hiện được [40]. Cho đến nay, các virus lây nhiễm qua đường truyền máu được phát hiện băng việc thực hiện băng phương pháp huyết thanh học gián tiếp thông qua sự có mặt của virus hay kháng thé của cơ thé người nhiễm phản ứng với virus trong đó có vi rút HBV chiếm tỷ lệ rất cao từ 10-15% trên tổng số lượng mẫu xét nghiệm.
Tuy vậy, ở những người mới nhiễm. lượng vi rút HBV còn quá ít và cơ thể chưa tạo ra kháng thể thì các kỹ thuật huyết thanh học không thể phát hiện ra được bệnh. Khoảng thời gian này được gọi là giai đoạn cửa số. Chính giai đoạn cửa số này là một nỗi ám ảnh và là một thách thức lớn của các nhà nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực an toàn truyền mau [13].
Từ tháng 6 năm 2015 Trung tâm Truyền máu Cho Ray đã bat dau triển khai kỹ thuật xét nghiệm NAT để sàng lọc tất cả các mẫu máu có kết quả âm tính phương pháp huyết thanh học.Vì vậy, để đánh giá hiệu quả của kỹ thuật này chúng tôi tiễn hành nghiên cứu: “Ứng dung kỹ thuật xét nghiệm Nucleic acid (NAT) dé phát hiện sớm sự hiện diện virus HBV ở người hiển máu tình nguyện tại Trung tâm Truyén máu Chợ Rây ”. Mục tiêu của đề tài Ứng dụng kỹ thuật xét nghiệm Nucleic acid (NAT) trong việc phát hiện sớm sự hiện diện của vi rút HBV ở ngưởi hiến máu tình nguyện góp phan đem lại an toàn cho bệnh nhân khi truyền máu. Nội dung - Xác định ty lệ HBV dương tính bang phương pháp xét nghiệm huyết thanh học ở người hiến máu tình nguyện tại Trung tâm truyền máu Cho Ray. - Xác định ty lệ HBV dương tính bằng phương pháp sinh học phân tử (kỹ thuật xét nghiệm NAT) ở người hién máu có kết quả xét nghiệm HBV âm tính với phương pháp huyết thanh học.
- Đánh giá hiệu quả sự kết hợp song song: 2 phương pháp huyết thanh học và phương pháp sinh học tử (xét nghiệm NAT) trong sàng lọc vi rút HBV lây nhiễm qua đường truyền máu. Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu khái quát về máu và truyền máu 2. Khái quát về máu Máu gồm 2 phan là phần các tế bào (phần hữu hình) va phan huyết tương (phan vô hình).
Lượng máu trong cơ thé phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, giới, trọng lượng cơ thé.Binh thường tổng lượng máu trong cơ thé người trưởng thành bang khoảng 1/13 trọng lượng cơ thé. Trung bình tong thé tích máu của cơ thé là 77ml/kg cân nặng đối với nam và 6óml/kg cân nặng đối với nữ. Lượng máu trong cơ thé tương đối ồn định nhờ cơ chế điều hòa giữa lượng máu sinh ra ở tủy xương với lượng máu bị mat đi. Ước tính mỗi ngày sẽ có một lượng máu tương đương với khoảng 40 ml đến 80 ml được thay thé và tủy xương có khả năng sinh máu gấp 10 lần (khoảng 400 ml đến 800ml) [1 4].
Lịch sử truyền máu Loài người từ xa xưa đã biết đến vai trò của máu như là “chất kỳ diệu” của cuộc sống. Thời cổ đại, người ta cho răng máu không chỉ là nhựa sống nuôi dưỡng cơ thé ma còn chứa đựng linh hồn của con người. Chính vì vậy, con người luôn trân trọng, giữ gìn và bảo vệ dòng máu trong cơ thể của mình. Không những thế, người xưa còn tim cách đưa máu vao trong co thé bang cách pha vào rượu để uống, cho vào thức ăn dé ăn và tiêm máu vào cơ thể.Năm 1900, nha bác học người Mỹ gốc Áo la Karl Landsteiner phát hiện ra nhóm máu hệ ABO mở ra ky nguyên mới cho ngành truyền máu.
Truyền máu phát triển mạnh hơn sau khi Reuben Ottenberg nêu ra sơ dé truyền máu vào năm 1913 dựa vào sự hòa hợp nhóm máu giữa người cho - người nhận và sơ đô truyện máu được mang tên tác giả. Truyền máu Ottenberg [41] Ở Việt Nam, trước năm 1954 truyền máu do quân đội Pháp tô chức tại bệnh viện Đồn Thủy (nay là bệnh viện Trung ương Quân đội 108) và một số bệnh viện tại Sài Gòn. Từ năm 1954 đến năm 1975, truyền máu ở nước ta chủ yếu phục vụ chiến tranh. Từ năm 1975 đến năm 1992, truyền máu được triển khai trên toàn quốc.
Cả nước có hang trăm cơ sở truyền máu. Máu được lay chủ yếu từ người hiến máu chuyên nghiệp (trên 90%), số còn lại là người nhà cho máu, chưa có người hién máu tình nguyện. Truyền máu toàn phan là chủ yếu. Máu được lay vào chai, tiễn hành một số xét nghiệm sàng lọc như giang mai, sốt rét, xét nghiệm nhóm máu hệ ABO và làm phản ứng chéo rồi truyền cho người bệnh.
Năm 1993, cả nước tiến hành sàng lọc HIV, sốt rét và giang mai trong truyền máu. Năm 1994, tiếp tục triển khai sàng lọc virus viêm gan B (HBsAg) trong truyền máu. Hiện nay, Bộ Y tế qui định bắt buộc xét nghiệm sàng lọc 5 tác nhân lây nhiễm qua đường truyền máu là HIV/AIDS, virus viêm gan B (HBV), virus viêm gan C (HCV), giang mai và sốt rét cho tất cả các đơn vị máu tiếp nhận [10,11,13]. Tác dụng của truyền máu và các hình thức của truyền máu Truyền máu là đưa các thành phan của máu vào một cá thé cần thiết tới máu, là hoạt động không thé thiếu trong cấp cứu và điều trị người bệnh khi bị mất máu nhiều (do tai nạn, do chiến tranh, do các tai bién sản khoa, do xuất huyết tiêu hoa.) hoặc do thiếu hụt các thành phần máu (xuất huyết giảm tiểu cầu, bệnh Hemophilia, rồi loạn đông máu do nhiễm độc, mat huyết tương do bong, người bệnh đa chan thương.
Nhờ có truyền máu ma các phương pháp điều trị hiện đại như ghép tạng, điều trị ung thư, phẫu thuật tim mạch, điều trị các bệnh về máu. được mở rộng và điều trị đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, truyền máu là đưa vào cơ thể người bệnh các yếu tố lạ (các tế bào máu và huyết tương) nên có thể xem như một loại ghép cơ quan cho nên truyền máu có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh khi có sai sót về mặt kỹ thuật (như định nhằm nhóm máu), có thể nhiễm các tác nhân lây nhiễm qua đường truyền máu (như HIV/AIDS, HBV, HCV, Giang mai, Sốt rét.) và có thé gây các phản ứng miễn dịch sau truyền máu|4,13]. Truyền máu có nhiều hình thức: dựa vào thành phần máu đưa vào cơ thé chúng ta có truyền máu toàn phan và truyền máu từng phân (như khối hồng cau, khối tiểu cầu, khối bạch cau, huyết tương.
Ngày nay, nhờ sự tiễn bộ của truyền máu hiện đại nên chủ yếu truyền máu từng phân theo tiêu chí “Người bệnh thiếu gì truyền nay”. Còn dựa vào sự tương đồng giữa người cho - người nhận chúng ta có truyền máu tự thân và truyền máu khác cá thé (người cho máu và người nhận máu khác nhau) [11]. Vai trò người hiến máu trong dịch vụ truyền máu Dịch vụ truyền máu là đem lại cho người bệnh nhận máu. người hiến máu và các đối tượng cong chúng liên quan sự phục vụ tốt nhất, đảm bảo an toàn truyền máu (với những đơn vị máu, chế phẩm máu đảm bảo chất lượng và chi phí hợp lý.
Các cơ sở truyền máu không sản xuất được máu nhân tạo mà chỉ là cầu nối để đưa những dòng máu nhân ái từ người hiến máu đến với người bệnh cần truyền máu. Do vay, người hién máu là một phan quan trong nhat dé tao nén dich vu truyén máu, nếu không có người hiến máu thì không có dịch vụ truyền máu. Người hiến máu quyết định đến số lượng máu của các trung tâm truyền máu. Thực tế trên thế giới và ở Việt Nam, một trong các chỉ SỐ quan trọng để đánh giá năng lực hoạt động của hệ thống truyền máu là số đơn vị máu tiếp nhận được và tỷ lệ máu đáp ứng với nhu cầu máu điều trị.
Người hién máu quyết định đến chất lượng máu. Nếu lẫy máu ở người bị thiêu mau thì các trung tâm truyên mau không thé “cô đặc” đê nâng cao chat lượng máu lên được vì các tế bào máu đòi hỏi phải là tế bào sống nên nếu “cô đặc” thì các tế bào này sẽ chết. Người hiến máu quyết định đến an toàn truyền máu.