CHƯƠNG 1: TONG QUAN 1.1 Tinh hình công nghiệp sản xuất giày dép tại Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày đứng hàng thứ ba với doanh thu 6,5 tỷ USD, tăng 27,39% so với cùng ky. Một trong những nhân tố góp phân tạo nên những thành quả đáng khen ngợi của ngành da giày năm 2011 là những nỗ lực giữ vững thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp trong ngành. EU, Mỹ, Nhật Bản vẫn là những thị trường chính của ngành với 80% tỷ trọng xuất khẩu, riêng mặt hàng giảy dép xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ đứng hàng thứ hai chỉ sau Trung Quốc và dẫn đầu tại một số thị trường như: Mexico, Brazil.
Những chuyển biến tích cực ở thị trường nội địa cũng là một trong những điểm nhân của ngành da giày năm 2011, theo số liệu của Hiệp hội Da giày Việt Nam, tổng dung lượng thị trường nội địa của sản phẩm giày dép ước khoảng 130-140 triệu đôi/năm, ngành da giày đã đáp ứng được gan 70 triệu đôi, chiếm gần 50% tỷ trọng. Đặc biệt, năm 2011 là năm đáng nhớ trong công tác đối ngoại của ngành da giày, với những thang lợi trong vụ kiện chỗng bán phá giá giày nhập khẩu vào Canada, EU quyết định chấm dứt việc áp thuế chống phá giá đối với một số mặt hàng giày và mũ da xuất khẩu của Việt Nam, Việt Nam được công nhận là nước xuất khẩu giày lớn thứ hai sau Trung Quốc va là nước sản xuất giày lớn thứ 4 trên toàn thé giới tại Hội nghị WFC diễn ra tại Brazil. ngành da giày Việt Nam đã không chỉ bảo vệ được quyền lợi của các doanh nghiệp trong ngành mà còn tô đậm hơn tên mình trong bản đồ ngành da giày thế giới. Tiếp nối những thành công của ngành năm 2011, Hiệp hội Da giảy Việt nam cho biết, sang năm 2012 ngành sẽ hướng đến những mục tiêu cao hơn và phan đấu tăng trưởng cả về chất và lượng.
Cụ thé, đối với sản phẩm giày dép ngành phan dau đưa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lên khoảng 12%, đạt 7,3 tỷ USD so với cùng kỳ. Với thị trường nội địa, ngành dự kiến sẽ cung cấp khoảng 70-75 triệu đôi giày dép, đạt trên 55% dung lượng thị trường, sản phẩm túi xách dự kiến cung ứng khoảng 16-18 triệu 1 Luan van thac si Dé tài: Thiét kê may bôi keo dé và mũ giày HVTH: Trần Quang Chiếu GVHD: TS. Nguyễn Văn Tường chiếc, đạt 62-64% dung lượng thị trường. Về nguồn nguyên phụ liệu, ngành sẽ tiếp tục nâng cao tỷ lệ nội địa hoá cho các dòng sản phẩm cấp trung.
giày thể thao, giày trẻ em, dép các loại. Phan dau đưa ty lệ nội dia hóa toàn ngành dat trên 50% vào cudi năm, tao nền tảng dé nâng tiếp trong các năm tiếp theo nhăm dat ty lệ nội địa hoá từ 60-65% vào năm 2015 theo đúng quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giày và túi xách Việt Nam đến năm 2020 đã được Bộ Công thương phê duyệt. Hiệp hội Da giày cũng cho biết, đây là những mục tiêu khá khó khăn đối với ngành da giày bởi dự báo tình hình kinh tế vĩ mô năm 2012 vẫn còn tiềm an nhiều thách thức. Để hoàn thành được mục tiêu, năm 2012 ngành sẽ phát huy hơn nữa các lợi thế cạnh tranh đặc biệt riêng của Việt Nam để duy trì các thị trường truyền thống, đặc biệt là sự ôn định về chính trị, sự khéo léo và tay nghề cao của người lao động, luật pháp bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Chủ động phối hợp với các cơ quan ban ngành và các tô chức quốc tế, các khách hang lớn trong việc giải quyết các van dé phát sinh trong hoạt động thương mại, nhất là các van dé bảo hộ mau dịch, chống bán phá giá. Bên cạnh đó, ngành tiếp tục dau tư tăng cường năng lực nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ quan lý và công nghệ sản xuất, tăng năng suất, giữ vững chất lượng, có chính sách giá cả phù hợp. Ngành sẽ đầu tư tham gia sở hữu một phần thương hiệu ở nước ngoài, tham gia từng bước đột phá vào khâu thiết kế, tiếp thị ở các thi trường xuất khẩu, từng bước tạo ra giá trị cao hơn trong chuỗi phân phối của ngành giày-túi xách thế giới. Đây mạnh hơn nữa các hoạt động nham xây dựng được thương hiệu riêng, chiếm ty trọng ngày càng lớn trong chuỗi phân phối sản phẩm da giày và túi xách.
Định hướng tiêu dùng cho thị trường trong nước nhằm phát triển bền vững thị trường nội địa , giảm bớt sự phụ thuộc vào xuất khẩu. Gan đây nhất, Hiệp hội Da giày Việt Nam (Le aso) đã kết hợp cùng Viện Nghiên cứu Da giày Việt Nam xây dựng một chiến lược phát triển bền vững cho ngành da giày 2 Luận văn thạc sĩ Dé tài: Thiét kê máy bôi keo dé và mũ giày HVTH: Trần Quang Chiếu GVHD: TS. Nguyễn Văn Tường Việt Nam giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn đến 2025 với mục tiêu chiến lược của ngành là đến năm 2020 xuất khẩu 13-14 tỉ đô la Mỹ sản phẩm giày dép các loại. Một trong những nội dung quan trọng của chiến lược nảy, theo Ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Le aso, là: Bám sát công nghệ của thế giới, đặc biệt quan tâm đến công nghệ tự động h a trong các công đoạn mai, bôi keo, tạo phom, go dan,.
Vì vậy cần phải quan tâm đến việc đổi mới công nghệ và thiết bị theo hướng tự động hóa trong sản xuất giày dép.2 Qui trình sản xuất giày. Qui trình co bản tại Công ty CP Giày Việt (Vina giày) được thé hiện ở hình 1.1 Cắt chi tiết mũ giày Giia công 2.2 ¥ May mũ giày ~ es các h4 1 chi 2.3 Bôi keo và dán phom vào mũ — tiết giav Cat de 3.1 Gia công dé giày 3 của Y trong cụm 2.4 | Lắp ráp mũ giày, dé trong vào ỶỲ. mũ phom Se gh ty ge Gia ¬ 3.2 Lap ráp đê giày, diễu công giày Š Non và gót các 2.5 Gò mũi chỉ v Phom Ỷ tiết 2.3 Mai mat ngoai dé của Vv giày cụm EE Prepppreeee „| để 2.7 | Làm phang mặt bên mũ giày Ị = + —¬ !Ì giày _=====—-—-——-¬TEE— 1] 3.4 Mai mặt nghiêng bên |; x. I 1 trong dé giay h 1] 2.9 Bôi keo mũ giày LÍ 3.5 Bôi keo đê giày 1 L [22st see Me Y —=———=———=——————— l Ỷ v 4 4.1 Say mũ giày va dé giày Công : ¥ - đoạn 4.2 Lap ráp mũ giày với dé giày 15 bị v Tap ; các 43 Ep dinh hinh chi Vv tiết 4.4 Lam sạch giày của giày Y 4.5 Đóng hộp Hình 1.1: Qui trình công nghệ gia công giày ở Công ty CP Giày Việt.
3 Luận văn thạc sĩ Dé tài: Thiết kế máy bôi keo dé và mũ giày HVTH: Trần Quang Chiếu GVHD: TS. Nguyễn Văn Tường Nói chung, tuỳ theo điều kiện mà qui trình chế tạo giày tại các công ty có sự khác biệt. Quy trình chế tạo giày cơ bản tại Công ty CP Giày Việt (Vina giày) được thể hiện ở hình 1. Quy trình này gồm 4 công đoạn cơ bản sau: - Cat dé trong.
- Gia công các chi tiết của cum mũ giày. - Gia công các chỉ tiết của cụm dé giay. - Lap ráp các chỉ tiết của giày. Trong qui trình này, hai nhóm công đoạn làm mất nhiều thời gian, dễ gây ách tắc sản xuất là các công đoạn mai và bôi keo mũ giày, dé giày (2.
Các công đoạn này được thực hiện thủ công kết hợp với thiết bị đơn giản, cần nhiều công nhân có tay nghề cao nhưng năng suất thường rất thấp, tỷ lệ phế phẩm lớn, có nhiều chất độc hại (bụi cao su, các hóa chất từ hơi keo) phát sinh gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và điều kiện làm việc của các công nhân, không đảm bảo tiêu chuẩn vẻ trách nhiệm xã hội SA8000. Vi vậy một số khách hang nước ngoai không dám ky hợp đồng với các công ty nay và đó cũng là một rào cản kỹ thuật được dựng lên bởi các nước tiên tiến nhằm hạn chế nhập khâu sản phẩm giày dép của Việt Nam. Tình hình nêu trên trở thành những yêu cầu cấp thiết cần đổi mới công nghệ va thiết bị theo hướng tự động hóa các công đoạn mài và bôi keo để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thu nhập của công nhân, đồng thời cải thiện sức khỏe và điều kiện làm việc cho hang trăm ngàn công nhân của các doanh nghiệp sản xuất giày dép Việt Nam.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng máy bôi keo trên thế giới.1 Tình hình nghiên cứu trên thé giới. Tự động hoá các công đoạn chế tạo giày đã và đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới.
Công đoạn bôi keo cho giày cũng được quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học. 4 Luận văn thạc sĩ Dé tài: Thiét kê máy bôi keo dé và mũ giày HVTH: Trần Quang Chiếu GVHD: TS. Nguyễn Văn Tường Tại phòng thí nghiệm ITIA Design and Mass Customization Laboratory, chi nhánh Vigevano (Pavia, Y), các nhà khoa học đã nghiên cứu xây dựng nhà máy san xuất tích hop (integrated production plant) của dự án EUROShoE [3]. Nhà máy bao gồm một xưởng sản xuất (750 m2) và một tầng điều khiển (100 m2).
Tang điều khiến dùng cho các hoạt động mua bán, lập kế hoạch sản xuất và các phòng thiết kế của nha máy giày. Phân xưởng sản xuất được tổ chức như là một nha máy sản xuất giày tự động ở mức độ cao và tích hợp hoàn toàn. Công đoạn bôi keo để giày được thực hiện cùng với công đoạn mài để giày băng rô bốt ở phân xưởng Gia công lần cuối”. Đầu phun keo có dạng một chổi quay tròn, được lắp lên cánh tay rô bốt có 6 bậc tự do như trên hình 1.
Rô bốt có tác dụng như một thiết bị định vị tiêu chuẩn và thực hiện việc kẹp đầu phun và di chuyển nó theo một quỹ đạo làm việc. Dé giày được ga trên một ban xoay hai vị trí. Khi rô bốt đang phun keo một dé giày tại một vị trí thi dé khác được lắp trên vị trí còn lại. Đối với trường hợp mai thì đầu mang đá mai thay thé đầu phun keo.
Nhu vậy rô bốt được trang bị một hệ thông thay dau mài và dau phun keo.2 Sử dung rô bốt dé bôi keo dé giày trong dự án EUROShoE. 5 Luận văn thạc sĩ Dé tài: Thiét kê máy bôi keo dé và mũ giày HVTH: Trần Quang Chiếu GVHD: TS. Nguyễn Văn Tường Một số tác giả khác như Kim [5], Arikan va Balkan [6], Suk-Hwan Suh, In-Kee Woo, Sung-Kee Noh [7] cũng dùng rô bốt dé tự động hoá việc bôi keo dé giày.