Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách công 1. Một số khái niệm Chính sách: “Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa chính sách. Từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) định nghĩa, “chính sách” là một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách… Với cách giải thích này, chính sách không chỉ là một quyết định mà nó còn là một đường lối, một phương hướng hành động.
David Easton (năm 1953), định nghĩa chính sách… bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động phân phối của các giá trị. Theo Hugh Heclo (năm 1972) cho rằng, một chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể. Smith (năm 1976) định nghĩa chính sách bao hàm… sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của những lực lượng có quan hệ với nhau. Ông nhấn mạnh “không hành động” cũng như “hành động” và nhắc nhở mọi người rằng “sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung vào các quyết định tạo ra sự thay đổi, mà còn phải thận trọng với những quyết định chống lại sự thay đổi và khó quan sát bởi vì chúng không được tuyên bố trong quá trình hoạch định chính sách”[53].
Theo từ điển tiếng Việt, “Chính sách là chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào một đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”[42, tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ”.475] Chính sách công: Theo Thomas Dye (năm 1972) định nghĩa “chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”[54]. Ông William Jenkins (năm 1978) định nghĩa “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị 7 liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền”[55]. Theo James Anderson (năm 1984) đưa ra định nghĩa chung hơn về chính sách công.
Ông cho rằng, “chính sách công là một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm”[56].Guy Peters (năm 1990) định nghĩa cụ thể hơn: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân”. Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính cho rằng, “Chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt những vấn đề của quốc gia hay những mối quan tâm của nhà nước”. Một số tác giả của Tập bài giảng Chính trị học của Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [49, tr. Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải trong “Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công”, ông cho rằng “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [13, tr.
Ở Việt Nam, Chính sách công được hiểu là công cụ để thực hiện hóa đường lối, chủ trương của Đảng nhằm xây dựng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [8, tr. Quá trình Đảng ta lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ xuất hiện những vấn đề mà Nhà nước phải giải quyết bằng chính sách. Như vậy, Chính sách công có vai trò quan trọng trong việc quản lí, điều hành xã hội và chính sách công được ban hành phải đảm bảo phù hợp định hướng chính trị mà Đảng ta đã xác định. Theo Văn Tất Thu trong bài báo Bản chất, vai trò của chính sách công được đăng tải ngày 27 tháng 01 năm 2017 trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước xác định: chính sách công có vai trò định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã hội theo các mục tiêu chung, phát huy mặt tích cực đồng thời khắc phục hạn chế của nền kinh tế thị trường, tạo lập các cân đối trong 8 phát triển, kiểm soát, phân bổ các nguồn lực trong xã hội, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển, từ đó thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành liên quan.
Thực hiện chính sách công: là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chương trình, … và thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu của chính sách được ban hành. Thực hiện chính sách công là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể ban hành chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu nhất định mà chủ thể đặt ra. Quy trình chính sách công Quy trình thực hiện chính sách công được được hiểu là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp liên quan với nhau từ khi vấn đề công được đưa vào chương trình nghị sự của nhà nước đến khi đánh giá được kết quả của chính sách đó. Quy trình chính sách có tính liên tục và tính biến động.
Tính liên tục thể hiện, mỗi chính sách khi ra đời là sự tiếp nối những chính sách đã có từ trước, chính sách mới ban hành có thể có kế thừa những mặt tích cực và cũng có thể có sự khắc phục những mặt hạn chế của chính sách trước đó. Tính biến động của chính sách thể hiện, khi chính sách được tạo ra sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tố có thể từ chủ thể, từ môi trường… Các chính sách thường có giá trị pháp lý không giống nhau nhưng không có bất kỳ chính sách nào là tồn tại bất biến. Khi tiếp cận chính sách theo quan điểm quy trình, ta thấy hoạt động quản lý Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành các chính sách công một cách thường xuyên, việc ra đời của các chính sách là sự nối tiếp nhau giữa các chính sách và trong quá trình đó chính sách công luôn được hoàn thiện, bổ sung. Quy trình chính sách công bao gồm ba giai đoạn: Một là, giai đoạn hoạch định chính sách là hình thành phương án chính sách, đưa ra quyết nghị chính sách.
Để thực hiện giai đoạn này, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cần có tầm nhìn dài hạn, tiến hành các hoạt động phân tích thực trạng để xác định vấn đề chính sách, đưa vấn đề đó vào chương trình nghị sự để giải quyết bằng việc ban hành chính sách. Hoạt động xác định vấn đề chính sách không chỉ do cơ quan nhà nước thực hiện mà có sự tham gia của cả xã hội, nhất là vai trò 9 của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Giai đoạn hoạch định chính sách là xác định rõ mục tiêu chính sách, các giải pháp đạt mục tiêu đó. Hai là, giai đoạn thực hiện chính sách là hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội.
Đây là giai đoạn tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách đã lựa chọn thông qua các hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện, kiểm tra đôn đốc trong quá trình thực hiện chính sách. Tiến hành kiểm tra việc thực hiện chính sách bằng cách ban hành các văn bản có tính pháp lý, quy định trách nhiệm, quyền hạn, việc thực hiện các hành động, biện pháp cụ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân lên quan. Như vậy, thực hiện chính sách là giai đoạn chính sách được biến thành kết quả thực tế, hiệu quả chính sách và các biện pháp tổ chức thực hiện chính sách được phát huy tác dụng trong cuộc sống. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu giai đoạn triển khai thực hiện chính sách, cụ thể là việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013 - 2018.
Ba là, giai đoạn đánh giá chính sách là giai đoạn cuối cùng của quy trình chính sách công. Giai đoạn này đòi hỏi phải tiến hành tổng kết, đánh giá quá trình triển khai, hiệu quả triển khai thực hiện, các tác động thực tế của chính sách đó. Trong quá trình đánh giá kết quả chính sách và chất lượng của quy trình hoạch định chính sách cần sử dụng các tiêu chí đánh giá cụ thể như hiệu suất, hiệu quả của chính sách, các tiêu chí về tính hợp pháp, tính dân chủ, công bằng xã hội, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan và các giá trị khác mà chính sách mang lại… Trên cơ sở đánh giá chính sách, các cơ quan nhà nước có thể đưa ra những điều chỉnh chính sách khi thấy cần thiết như bổ sung mục tiêu của chính sách, điều chỉnh giải pháp thực hiện chính sách hoặc có thể đưa ra quyết định có tiếp tục theo đuổi mục tiêu hay chấm dứt sự tồn tại của chính sách đó. Tổ chức thực hiện chính sách công Tổ chức thực hiện chính sách công có vai trò to lớn trong quy trình thực hiện chính sách công, thể hiện: Thứ nhất, thực hiện chính sách công là giai đoạn biến ý chí, thái độ ứng xử của nhà nước với các đối tượng quản lý thành hiện thực, hay nói cách khác đây là quá trình đưa ý đồ của nhà nước vào thực hiện trong đời sống xã hội.
Thứ hai, Thực hiện chính công là việc từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách công. Thực hiện chính sách công bao gồm các hoạt động có tổ chức do chủ thể thực hiện nhằm hướng tới đạt được các mục đích và mục tiêu được chủ thể tuyên bố trong chính sách.