Chương 1: Tình hình KH&CN của Mỹ trước năm 1993 và bối cảnh lịch sử khi Tổng thống Bill Clinton lên cầm quyền Chương 2: Những điều chỉnh và các biện pháp hỗ trợ thực hiện chính sách KH&CN của Mỹ (1993-2001) Chương 3: Tác động của chính sách KH&CNđối với kinh tế - xã hội Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton (1993-2001) và một số kinh nghiệm cho Việt Nam 7 CHƢƠNG 1 TÌNH HÌNH KH&CN CỦA MỸ TRƢỚC NĂM 1993 VÀBỐI CẢNH LỊCH SỬKHI TỔNG THỐNG BILL CLINTON LÊN CẦM QUYỀN 1.1 Tình hình KH&CN của Mỹ trƣớc năm 1993 Kể từ khi lập quốc (1776) là một nước vô danh bên bờ Đại Tây Dương, Mỹ đã từng bước vươn lên khẳng định vị thế của mình. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã trở thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Năm 2000, GDP của Mỹ chiếm gần 30% GDP toàn thế giới [6; tr. Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Mỹ đạt được sự phát triển to lớn đó là do Chính phủ thường xuyên coi trọng và đề ra những chính sách thúc đẩy KH&CN phát triển, đặc biệt là việc nghiên cứu, phát minh.
Mỹ là quốc gia có chính sách phát triển KH&CN từ rất sớm và trong mỗi thời kỳ chính sách KH&CN của Mỹ lại có những đặc trưng riêng. Từ khi xuất hiện với tư cách một quốc gia độc lập (1776), Hoa Kỳ đã khuyến khích khoa học và phát minh. Bản thân Hiến pháp Hoa Kỳ phản ánh mong ước khuyến khích sự sáng tạo khoa học khi trao cho Quốc hội quyền “thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và các môn nghệ thuật hữu ích, bằng việc đảm bảo cho các tác giả và các nhà phát minh đặc quyền đối với những tác phẩm và khám phá của họ trong những khoảng thời gian nhất định” [93; tr. Điều khoản này tạo thành cơ sở cho các hệ thống bằng sáng chế và bản quyền của Hoa Kỳ, những hệ thống này đảm bảo rằng các phát minh và các công trình sáng tạo khác không thể bị sao chép hoặc sử dụng mà không để cho người tạo ra nó được hưởng một sự đền bù nào đó.
Nhận thức về vị trí, vai trò của KH&CN không chỉ được thể hiện rõ ở các nhà lãnh đạo nước Mỹ mà còn bén rễ vào từng công dân bình thường.Washington, vị Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, ngay từ đầu đã rất quan tâm, cổ vũ những phát minh về vũ khí của các nhà khoa học nghiệp dư. Các công dân Mỹ được thông tin một cách đầy đủ và nhanh chóng về các hoạt động KH&CN hơn ở các nước khác. Một kết quả nghiên cứu dù là nhỏ mới 8 đạt được cũng được công bố ngay. Chẳng hạn như cuộc triển lãm thế kỷ được Tổng thống Grant mở tại Philadelphia vào tháng 5 năm 1876 là một ví dụ điển hình.
Quốc hội đã dành riêng một khoản 2 triệu USD, Pennsylvania góp một triệu USD và Philadelphia có 1,5 triệu USD cho cuộc triển lãm ở công viên Fairmon. Nơi đây trưng bày các phát minh lớn trong các thập kỷ qua, bao gồm điện thoại, máy chữ, máy in rônêô và đầu máy xe lửa Corliss 2500 sức ngựa mà sau này George Pullman đã mua cho nhà máy sản xuất xe lửa có toa giường nằm [3; tr. Cùng với chính sách ưu tiên phát triển của Nhà nước thì việc quản lý cũng tạo điều kiện hết sức thuận lợi choKH&CN ở Mỹ. Chính sách quản lý hoạt động khoa học luôn kiên trì đường lối phi tập trung hóa.
Ngay từ buổi ban đầu, việc tổ chức nghiên cứu khoa học ở quốc gia này có thể hình dung như một bức tranh sinh động, được khảm bằng nhiều mảnh ghép với những hình dáng và màu sắc khác nhau, không theo một đường lối hoạt động và cơ cấu tổ chức cứng nhắc của một cấp trung ương, nhưng đều hướng vào mục tiêu duy nhất là phục vụ cuộc sống. Nhờ những ưu thế trên nhiều phương diện và do có chủ trương nhập cư tích cực những người có trình độ chuyên môn, nước Mỹ là nam châm thu hút lao động khoa học trên toàn thế giới. Mỗi Viện và trường Đại học ở Mỹ có hệ thống tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo riêng, với nội dung và phương thức hoạt động khác nhau. Viện Masachuset thành lập từ năm 1861, hiện có 5 trường đại học với 34 khoa.
Trường Đại học Rokefeller do tư nhân thành lập từ năm 1901, chuyên đào tạo và nghiên cứu các vấn đề y học theo phương hướng hoàn toàn tự do với khẩu hiệu “Hãy để cho họ (các nhà khoa học) tìm tòi, cái gì tùy theo ý muốn của họ, hãy giúp đỡ họ, nhưng đừng có xu hướng làm thầy họ”[49; tr. Mỹ là nước đứng đầu thế giới về phát minh, sáng chế, đồng thời cũng là nước tích cực trong việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ thông qua nhiều phương cách. Amaya Naohiro - cố vấn đặc biệt của Bộ công nghiệp và ngoại 9 thương Nhật Bản coi những tiến bộ kỹ thuật trong những năm cuối thế kỷ XIX như một nền văn minh: “Nếu như nước Anh là cái nôi của nền văn minh than đá, thì Mỹ là cội nguồn của nền văn minh dầu hoả và điện”[49;tr. Với sự nở rộ của những phát minh kỹ thuật, Andrew Carnegie đánh giá năm 1886 rằng: “nước Mỹ được sinh ra là để trở thành một nước công nghệ tiên tiến nhất và dân chủ nhất trong lịch sử thế giới dường như chắc chắn đã thành hiện thực”[3; tr.
Đầu thế kỷ XX, Quốc hội Mỹ đã thông qua những đạo luật hỗ trợ cho quá trình phát triển công nghiệp theo phương thức mới (liên kết giữa khoa học kỹ thuật với sản xuất) bằng những hợp đồng ký kết giữa nhà nước và các công ty tư nhân. Tới thời tổng thống Roosevelt (1901-1909), người ta còn chính thức thành lập một Ủy ban để triển khai các hoạt động hỗ trợ này. Ủy ban này có chức năng đặt hàng, hỗ trợ tài chính và mua các sản phẩm đã đặt hàng để đẩy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật và công nghiệp. Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra (1914-1918) đã làm nảy sinh nhu cầu rất lớn về hàng hóa quân sự, do đó giới cầm quyền Mỹ đã đẩy mạnh đầu tư vào phát triển khoa học - kỹ thuật.
Một mạng lưới các phòng thí nghiệm Liên bang đã hình thành để thực hiện các hợp đồng cho Chính phủ. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do những thay đổi nhất định, chính quyền Liên bang đã giảm bớt sự chú ý đến KH&CNso với giai đoạn trước. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu để thúc đẩy tiến bộ KH&CNở các ngành tiên tiến nhất của công nghiệp. Ví dụ, để phát triển ngành hàng không, chính quyền Liên bang đã thông qua một chương trình dưới hình thức luật vào năm 1926 mang tên “Phát triển hàng không”.
Đây là một chương trình phát triển quy mô và lâu dài nhất của Mỹ trong lĩnh vực hàng không. Trong chương trình này, nhà nước vừa tài trợ cho nghiên cứu vừa đầu tư cho tổ chức sản xuất phương tiện hàng không phục vụ cho cả mục đích dân sự và quân sự. 10 Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ năm 1939 đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để Mỹ trở thành nơi khởi nguồn của cuộc cách KH&CN hiện đại. Nếu như Anh là nước dẫn đầu thế giới công nghiệp trong kỷ nguyên máy hơi nước và than đá thì Mỹ là nước dẫn đầu trong kỷ nguyên điện và dầu hỏa.
Nhất quán với tư tưởng “khoa học, chìa khóa dẫn tới sự tiến bộ của nước Mỹ” [3; tr.144], Mỹ đã chăm lo xây dựng một lực lượng khoa học hùng hậu với sự dẫn đầu của khoa học cơ bản, thu hút nhiều tài năng kiệt xuất của thế giới làm cho khoa học cơ bản và công nghệ hiện đại ở Mỹ phát triển rất nhanh. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ tập trung vào nghiên cứu ứng dụng và đã cống hiến cho thế giới nhiều sáng chế kỹ thuật quan trọng, còn khoa học cơ bản thì vẫn dựa vào Tây Âu. Từ giữa những năm 30, để lẩn tránh sự khủng bố của chủ nghĩa phát xít, Albert Einstein và hàng loạt các nhà bác học lỗi lạc khác người Do Thái từ Đức, Italia, Hunggari… di cư sang Mỹ và lúc đó cùng với lực lượng khoa học đã có từ trước đã tạo nên đội ngũ các nhà khoa học đông đảo. Giai đoạn trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), Chính phủ Mỹ đã có những thay đổi về chất trong chính sách phát triển KH&CN.
Do nhu cầu cao về quân sự và chính trị cùng tiềm lực kinh tế lớn mạnh, lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, nhà nước đã gánh vác vai trò là người chủ yếu tổ chức, tài trợ, đầu tư và quản lý một chuỗi các công việc quan trọng nhất của nghiên cứu, hình thành công nghệ và tổ chức sản xuất vũ khí nguyên tử. Từ kinh nghiệm thực hiện dự án này, Chính phủ Mỹ đã triển khai những chương trình tiến bộ kỹ thuật phức tạp khác như chương trình đổ bộ lên mặt trăng sau này. Người ta đã nhận ra rằng “khoa học là chân trời không cùng” (nhận xét của Bush V., một cố vấn khoa học dưới thời Tổng thống Roosevelt) và những nghiên cứu cơ bản nhiều khi tách rất xa với những sản xuất ứng dụng, khó hoàn lại ngay các khoản đầu tư thông qua tổ chức ứng dụng khai thác ngay sau đó. Do vậy, vào những năm 1950, vấn đề lựa chọn những lĩnh vực được 11 ưu tiên để phát triển KH&CNđã được đặt ra.
Việc tìm kiếm những giải pháp tối ưu cho sử dụng nguồn lực của nhà nước ở những hướng mà công nghệ còn lạc hậu đã trở thành nền tảng cho chính sách KH&CNcủa Chính phủ Mỹ trong giai đoạn này. Cũng từ nhận thức khoa học là chân trời không cùng, ở Mỹ đã dần hình thành học thuyết “phân chia trách nhiệm”; nghĩa là cả Nhà nước và tư nhân đều có trách nhiệm đầu tư vào phát triển và ứng dụng KH&CN. Quan niệm này được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và đến thời Tổng thống Carter (1976-1980) đã trở thành một nguyên tắc ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Mỹ.