phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 11 Chƣơng 2. Thực trạng chất lƣợng tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sơn Tây Chƣơng 3. Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sơn Tây 12 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm cho vay KHCN của ngân hàng thương mại Cho vay là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang cho khách hàng (tổ chức, cá nhân) trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Nói cách khác, cho vay ngân hàng là quan hệ cho vay giữa ngân hàng với các tổ chức, cá nhân đƣợc thực hiện dƣới hình thức: ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay với các đối tƣợng trên.
Cho vay của NHTM là việc chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ NHTM (ngƣời sở hữu) sang khách hàng vay (ngƣời sử dụng), sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu. Hay có thể hiểu cho vay là quan hệ giữa một bên là ngƣời cho vay (NHTM) bằng cách chuyển tiền, tài sản sang bên ngƣời vay (khách hàng) để sử dụng trong thời gian nhất định với cam kết của ngƣời vay là khoản hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn. Cho vay ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng. Đối tƣợng của cho vay ngân hàng là vốn tiền tệ, trong đó: ngân hàng là ngƣời cho vay còn tổ chức, cá nhân là ngƣời đi vay.
Cho vay ngân hàng vừa là cho vay mang tính chất sản xuất kinh doanh do gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh vừa là cho vay mang tính chất tiêu dùng, không gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhƣ vậy có thể hiểu, “Cho vay KHCN là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho KH là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi 13 với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để tiêu dùng và phục vụ sản xuất, kinh doanh”. Cho vay KHCN đóng góp lớn đến sự lƣu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân 1.
Về đối tượng Với đặc điểm đối tƣợng vay vốn là các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có nhu cầu sử dụng vốn phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tƣ hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình đó. Khác với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, khách hàng cá nhân thƣờng có số lƣợng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng song không thƣờng xuyên và chịu sự ảnh hƣởng nhiều của môi trƣờng kinh tế, văn hóa – xã hội. Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân cũng rất khác nhau. Thời gian vay vốn Thời gian vay vốn của khách hàng cá nhân đa dạng, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn.
Đối với những khoản vay bổ sung vốn lƣu động phục vụ sản xuất kinh doanh thì thời hạn chủ yếu là vay ngắn hạn. Còn đối vói những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thì thời hạn vay thƣờng là trung và dài hạn. Quy mô vốn và số lượng các khoản vay Quy mô của các khoản vay nhỏ nhƣng số lƣợng các món vay lại rất lớn. Do đa số Khách hàng tìm đến Ngân hàng để vay vốn thuộc đối tƣợng cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu chi tiêu cấp bách, nhỏ lẻ.
Bên cạnh đó, khi tìm đến Ngân hàng, họ cũng đã có một sự tích lũy từ trƣớc vì vậy số tiền vay thƣờng không lớn nếu đứng trên giác độ cho vay đối với các doanh nghiệp hoặc các 14 tổ chức kinh tế. Tuy nhiên, số lƣợng KHCN, HGĐ đến vay vốn tại Ngân hàng lại rất nhiều, nhu cầu vay nhìn chung rất đa dạng và thƣờng xuyên. Vì vậy, xét về mặt tổng thể, doanh số cho vay đối với KHCN, hộ gia đình chiếm một tỷ trong tƣơng đối lớn trong khoản mục tín dụng của Ngân hàng. Chi phí cho vay KHCN là khá lớn Cho vay KHCN là một trong những loại hình có mức chi phí cao do số lƣợng món vay lớn, rời rạc, thời gian vay thƣờng không dài.
Do đó, việc thiết lập, quản lý, kiểm soát từng món vay tốn nhiều công sức và thời gian. Mỗi một hồ sơ cho vay KHCN đều đƣợc thực hiện theo quy trình cho vay đầy đủ, tƣơng đối mất thời gian và tốn nhân lực. Vì vậy, chi phí dành cho hoạt động cho vay KHCN thƣờng khá lớn. Lãi suất cho vay KHCN thường cao và cứng nhắc Lãi suất cho vay của các khoản cho vay khách hàng cá nhân thƣờng cao hơn so với các khoản cho vay khách hàng là doanh nghiệp.
Nguyên nhân bởi vì chi phí cho vay khách hàng cá nhân tính trên mỗi đơn vị đồng vốn cho vay là lớn, mức độ rủi ro của khoản vay cao và kém nhạy bén với lãi suất. Mặt khác, lãi suất cho vay KHCN thƣờng không linh hoạt nhƣ các khoản cho vay sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có lãi suất thả nổi theo điều kiện thị trƣờng. Nhƣ vậy, việc cho vay KHCN sẽ phải chịu nhiều rủi ro lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên. Rủi ro cho vay KHCN thường cao Các khoản cho vay khách hàng cá nhân bao giờ cũng tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao.
Bởi đối tƣợng cho vay là các cá nhân, hộ gia đình có tình hình tài chính dễ thay đổi tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đình thƣờng có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu do đó khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng kém. Do vậy Ngân hàng sẽ phải đối mặt với 15 rủi ro khi ngƣời vay bị thất nghiệp, gặp tai nạn, phá sản. Mặt khác việc thẩm định và quyết định cho vay khách hàng cá nhân thƣờng không đầy đủ về thông tin cũng là một trong những lý do dẫn tới tình trạng rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay khách hàng cá nhân.
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay KHCN thông thường rất cao Tuy hoạt động cho vay KHCN có rủi ro cao nhƣng lợi nhuận thu đƣợc lại rất lớn. Do tính rủi ro cao kèm theo hàng loạt các chi phí nhƣ quản lý, kiểm soát món vay, lƣơng nhân viên…Vì vậy, Ngân hàng thƣờng áp dụng mức lãi suất cho vay với biên độ cộng đủ lớn để mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho mình. Ngoài ra, số lƣợng các khoản vay cá nhân rất lớn, điều này tỷ lệ thuận với thu nhập mang lại cho Ngân hàng. Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân Hoạt động cho vay của NHTM có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia.
Để phát triển, bất kỳ một quốc gia nào cũng cần phải có đƣợc hệ thống tài chính vững mạnh, đặc biệt hoạt động cho vay của hệ thống Ngân hàng cần phải đƣợc chú trọng hơn cả. Các luồng vốn thông qua hệ thống NHTM cần đƣợc liên tục luân chuyển từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, có nhƣ vậy thì nhu cầu sử dụng vốn của chủ thể cần vốn trong nền kinh tế mới đƣợc đáp ứng. Điều này vừa mang lại thu nhập cho Ngân hàng, vừa thỏa mãn nhu cầu sử dụng vốn của các cá nhân, doanh nghiệp trong nền kinh tế. Đối với NHTM - Trƣớc hết, cho vay KHCN giúp NHTM nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Với chức năng trung gian trên thị trƣờng tài chính, NHTM huy động vốn và cho vay, hƣởng lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất. Trong khi đó lãi suất cho vay KHCN là khá cao, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho NH. - Hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro. Với 16 nhiều khoản cho vay khổng lồ đối với những KH lớn, lợi nhuận là rất lớn nhƣng rủi ro cũng cao.
Trong cho vay KHCN, số lƣợng KH lớn nhƣng quy mô nhỏ lẻ do đó giúp NH phân tán đƣợc rủi ro. - Ngoài ra, cho vay KHCN còn giúp NHTM mở rộng quan hệ với KH, thu hút KH sử dụng thêm các hình thức dịch vụ khác nhƣ chuyển tiền hoặc sử dụng dịch vụ trả lƣơng qua tài khoản tại NH để thuận lợi cho hoạt động thanh toán lãi theo kỳ hạn, sử dụng các dịch vụ thẻ, quảng bá thƣơng hiệu NH thông qua KH. Đây là điều kiện giúp NH nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần. Đối với khách hàng cá nhân Do nền kinh tế hàng hoá ngày càng đƣợc mở rộng và phát triển nên nhu cầu vay vốn của KHCN để đáp ứng nhu cầu cũng ngày càng gia tăng.
Đặc biệt là trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ nhƣ hiện nay thì việc vay qua NHTM và thanh toán điện tử càng trở nên thuận tiện và hiện đại hơn. Việc cho vay KHCN của các NH hiện nay đã phần nào đáp ứng đƣợc những nhu cầu cấp thiết của KH. Ở Việt Nam, phần lớn ngƣời dân vẫn không có khả năng để chi trả đƣợc hết những nhu cầu mà họ mong muốn trong cuộc sống cũng nhƣ đáp ứng nhu cầu vốn để phục vụ mục đích kinh doanh ở thời điểm hiện tại và đặc biệt là trong những trƣờng hợp cấp bách thì lãi suất cho vay của NH hợp lý hơn nhiều so với lãi suất vay “nóng” bên ngoài thị trƣờng. Thời hạn cho vay và phƣơng thức trả nợ linh hoạt căn cứ vào khả năng trả nợ của KH.
Điều kiện và thủ tục để có đƣợc khoản vay KHCN không quá phức tạp.