Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THỰC TIỄN 1. Cở sở lý luận 1. Các khái niệm Người cao tuổi: Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Người cao tuổi có quyền và nghĩa vụ; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; Hội người cao tuổi Việt Nam (Luật Người cao tuổi, 2009) Người cao tuổi có các quyền sau đây: Được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ; Quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn; Được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch và nghỉ ngơi; Được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khoẻ, nghề nghiệp và các điều kiện khác để phát huy vai trò người cao tuổi(Luật Người cao tuổi, năm 2009) Người cao tuổi yếu thế: bao gồm người cao tuổi tàn tật, người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi các hộ quá nghèo… Tuy có hoàn cảnh khác nhau, nhu cầu khác nhau nhưng đại bộ phận số người cao tuổi yếu thế cần được quan tâm đặc biệt kể cả việc chăm sóc về tinh thần, vật chất, chăm sóc y tế… (Nguyễn Kim Liên, 1999) Sức khỏe: của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Có rất nhiều quan niệm về sức khỏe, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở khái niệm của WHO: “Sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật” và được khẳng định tại Điểm 1, Bản 14 Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978.
Như vậy, sức khỏe gồm ba thành tố: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, sức khỏe xã hội. Chỉ có thể hiểu khái niệm sức khỏe, khi và chỉ khi lĩnh hội được đầy đủ các thành tố trên. Sức khoẻ tinh thần: Sức khoẻ tinh thần là sự thỏa mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần. Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản; ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh.
Có thể nói, sức khoẻ tinh thần là nguồn lực để sống khoẻ mạnh, là nền tảng cho chất lượng cuộc sống, giúp cá nhân có thể ứng phó một cách tự tin và hiệu quả với mọi thử thách, nguy cơ trong cuộc sống. Sức khoẻ tinh thần chính là sự biểu hiện nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức. Cơ sở của sức khoẻ tinh thần là sự thăng bằng và hài hòa trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm (Giáo trình CSSKTT-CDDD1-NTT-5- 2011). Chăm sóc sức khỏe: có rất nhiều quan điểm khác nhau về chăm sóc sức khỏe: Theo tác giả Hoàng Đình Cầu trong cuốn: “Quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu”, NXB y học Hà Nội năm 1995 thì: Chăm sóc sức khỏe là việc làm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt (nhu cầu đầy đủ dinh dưỡng, được vui chơi, giải trí.), để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể chất, tinh thần, xã hội của mỗi thành viên trong xã hội.
Chăm sóc sức khỏe tinh thần: Để có được sức khỏe tinh thần tốt mỗi cá thể cần phải trang bị cho bản thân những cách quản lý và đối phó với stress hiệu quả nhất; phải luôn luôn sống lạc quan, yêu đời; hãy học cách ứng phó với những thay đổi có thể ảnh hưởng đến bản thân (tăng cường khả năng thích ứng) biết cách điều chỉnh và ứng phó cảm xúc của bản thân, đặc biệt là những xúc cảm tiêu cực, hướng vào bản thân (Đặng Phương Liên, 2018, Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang) 15 1. Lý thuyết hệ vai trò của Merton Merton mở rộng khái niệm vị thế – vai trò của Ralph Linton. Theo quan niệm của Linton, vị thế là vị trí trong cấu trúc xã hội với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng và vai trò là kiểu hành vi hướng tới sự mong đợi của những người khác xung quanh. Nhưng trong khi Linton cho rằng mỗi một vị thế có một vai trò tương ứng, thì Merton quan niệm rằng một vị thế có nhiều vai trò mà ông gọi là hệ vai trò.
Merton đưa ra khái niệm “hệ vai trò” để chỉ một cấu trúc gồm các vai trò và các quan hệ của chúng mà cá nhân thực hiện khi nắm giữ một vị thế xã hội nhất định. Ông đặc biệt quan tâm tới hệ vai trò bởi vì khái niệm này liên quan trực tiếp tới chức năng. Vai trò chính là chức năng mà là các hành vi cá nhân hay thiết chế xã hội đảm nhận thực hiện. Hệ vai trò thực chất là hệ thống các chức năng và phản chức năng, chức năng trội và chức năng lặn có liên quan chặt chẽ với nhau.
Quan niệm của Merton về hệ vai trò đặt ra một loạt vấn đề nghiên cứu quan trọng trong xã hội học. Đó là tìm hiểu sự tác động của cấu trúc xã hội đối với việc hình thành hệ vai trò. Đó là xem xét cách thực hiện hệ vai trò để đảm bảo tính cân bằng, ổn định cũng như giải quyết những mâu thuẫn, xung đột có thể xảy ra giữa các vai trò (Lê Ngọc Hùng, 2008). Việc áp dụng lý thuyết hệ vai trò của Merton để thấy được vai trò của gia đình, cộng đồng, nhà nước đối với chăm sóc người cao tuổi.
Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy được tại địa phương, các cơ quan đã thực hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình theo luật quy định hay chưa Thuyết mạng lưới xã hội: Vũ Quang Hào (2017:136-139) Theo James J.Chriss, khái niệm mạng lưới xã hội được bắt đầu từ G. Simell, người đầu tiên trong xã hội học cho rằng, hình thức tồn tại xã hội là tương tác xã hội 16 (sociation). Để hiểu thuyết mạng lưới xã hội trước tiên chúng ta cần nhắc lại định nghĩa xã hội. Xã hội là tập hợp nhóm các cá nhân có quan hệ xã hội với nhau sống trong một khoảng không gian có biên giới lãnh thổ riêng biệt so với nhóm xã hội khác.
Trong xã hội có nhiều cách thức tổ chức khác nhau mà đều do con người tạo dựng nên để đáp ứng nhu cầu của chính họ. Con người tạo dựng nên xã hội, nhưng xã hội sau khi hình thành thì có các quy luật tồn tại của riêng nó. Sự hình thành các thiết chế các tổ chức xã hội theo chiều dọc của các thang bậc quyền lực phản ánh bất bình đẳng trong xã hội là điều kiện quan trọng để chúng ta nhận dạng xã hội được quản lý như thế nào qua các tầng lớp xã hội của nó. Chúng ta có thể đi đến định nghĩa phân tầng xã hội như sau: Phân tầng xã hội là sự phân phối bất bình đẳng xã hội về tài sản hay hàng hóa, cổ phần có giá trị trong một tập hợp dân cư.
Các cơ may xã hội và tài sản hay hàng hóa của xã hội thường được phân phối theo các tiêu chí về giai cấp, vị thế, cấp bậc xã hội. Mỗi xã hội đều có cách tổ chức theo thứ bậc hành chính với những thẩm quyền cụ thể. Con người không phải lúc nào cũng thuận lợi quan hệ theo bậc hành chính mà nó tìm các cơ hội khác để tồn tại và phát triển tốt hơn. Vì thế con người liên kết với nhau theo các mạng lưới theo các tiêu chí nào đó mà họ tự thỏa thuận và thỏa mãn lẫn nhau.
Thuyết mạng lưới xã hội là thuyết giải thích loại hình tổ chức xã hội này. Người ta thường nói nền hành chính chính thống quan hệ xã hội theo chiều dọc của thang bậc quyền lực chính thống. Trong khi đó mạng lưới xã hội được tổ chức theo chiều ngang và quyền lực phi hành chính. Vì thế nhiều nhà xã hội học định nghĩa như sau: mạng lưới xã hội là một khuôn mẫu các quan hệ xã hội trong một tập hợp dân số của các chủ thể hành động xã hội.
Thuyết mạng lưới xã hội là loại lý thuyết trung gian giữa thuyết vi mô và thuyết vĩ mô. Mạng lưới xã hội trong đó hành động cá nhân đã được in dấu ấn vào, nó đã được cấu trúc bởi các hành động cá nhân do đó các mối liên hệ 17 xã hội nối liền với các cá nhân có liên quan tới hành động của họ lại với nhau. Từ quan niệm này, có hai cách tiếp cận khác nhau xuất hiện. Tiếp cận thứ nhất cho rằng, cá thể như là người tiếp nhận một cách thụ động về các áp lực môi trường cách tiếp cận này nhấn mạnh cấu trúc xã hội.
Các mạng lưới xã hội sinh ra những nè nén kìm hãm sự tự do hành động cá nhân. Tiếp cận thứ hai cho rằng, các mạng lưới chỉ là các nguồn lực xã hội, trong đó các cá nhân là chủ thể hành động là những người đi tiên phong khám phá những mối liên hệ xã hội để thực hiện mục tiêu có lợi cho chính họ. Tức là nhấn mạnh tính tìm tòi chủ động sáng tạo của cá nhân. Wellman (1983: 156-157) cho rằng, con đường trực tiếp để nghiên cứu một cấu trúc xã hội là nghiên cứu mô hình của các mối liên hệ nối các thành viên mạng lưới xã hội lại với nhau.
Các nhà lý thuyết mạng lưới thiên hướng nghiên cứu cách thức con người điều tiết các quan hệ mạng lưới hơn là việc nhấn mạnh những nghiên cứu quá trình xã hội hóa và nội tâm hóa các chủ thể hành động theo một hệ tư tưởng chung. Trong quan hệ mạng lưới, tồn tại ở cấp độ vi mô lẫn vĩ mô. Ở cấp độ vi mô, các cá nhân quan hệ với nhau theo cấu trúc vi mô hay liên cá nhân. Trong khi đó, ở cấp độ vĩ mô các nhóm xã hội liên kết với nhau trong một cấu trúc mạng lưới xác định (Wellman và Wortly (1990).
Trong khi đó Mak Granovetter (1985:490) đi sâu vào giải thích mối quan hệ mạng lưới ở cấp vi mô. Ông cho rằng, hành động của cá nhân được thấm nhuần sâu sắc trong các quan hệ cá nhân và cấu trúc của các quan hệ liên cá nhân đó. Mak Granovetter cho rằng, trong mạng lưới vi mô tồn tại hai loại liên kết (link) là liên kết mạnh và liên kết yếu.