CHƯƠNG 1: MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRAM CẢM TRONG BOI CANH COVID 19 VA LIEU PHAP TAM LY DIEU TRI TRAM CAM 1. Téng quan về rối loan tram cảm trong bối cảnh dai dich Covid 19 Ngay cả trước đại dịch COVID-19, các rối loạn sức khỏe tâm thần đã gây ra một gánh nặng đáng ké trên toàn thế giới. Theo bảng xếp hạng của Nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD) về những nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm, thiệt hại về sức khỏe trên thế giới, năm 1990 tram cảm xếp thứ 3 và năm 2019, tram cảm đứng ở vị trí thứ 2. [22] Sau khi xuất hiện đại dịch, trên thế giới có khá nhiều băng chứng nghiên cứu về ảnh hưởng của đại dịch đến tôn thương tâm lý và sức khỏe tinh than.
Cho dù đó là một quốc gia có tồn tại đại dịch hay không thì đều bị ảnh hưởng mọi mặt đối với sức khỏe thê chất và tinh thần của người dân. Damian F Santomauro và cộng sự (2021), trong nghiên cứu về “Ty lệ toàn cầu và gánh nặng của các rối loạn tram cảm và lo âu ở 204 quốc gia và vùng lãnh thé vào năm 2020 do đại dịch COVID-19” cho thay những kết quả rat cụ thé về ảnh hưởng của đại dịch. Trước khi xuất hiện đại dịch COVID-19, tỉ lệ người có rối loạn trầm cảm là 193 triệu người trên toàn cầu. Sau khi xuất hiện Corona, con số đó đã tăng lên là 246 triệu người.
Các nhà nghiên cứu ước tính rang đại dịch COVID-19 đã làm tăng thêm 53,2 triệu người trầm cảm, trong đó 35,5 triệu nữ giới (tăng 29,8%) và 17,7 triệu là nam giới (tăng 24%). [7] Ở Trung Quốc, Yan Guo và cộng sự (2020) đã nghiên cứu về “Rối loạn sức khỏe tâm thần và các yếu tố nguy cơ liên quan ở người lớn được cách ly trong đợt bùng phát COVID-19 ở Trung Quốc”, kết quả cho thấy có 32,7% người trải qua các triệu chứng lo lắng hoặc trầm cảm gia tăng trong thời gian cách ly, với 25,4% và 21,3% có các triệu chứng lo lắng và trầm cảm, tương ứng. Con số này cao hơn gấp ba lần tỷ lệ lo âu suốt đời và các triệu chứng trầm cảm được báo cáo trước đây đối với dân số Trung Quốc (lần lượt là 7,6% và 6,8%).[21] Tại Hoa Kì, Sandro Galea (2020) đã nghiên cứu về “Mức độ phổ biến của các triệu chứng trầm cảm ở người lớn Hoa Kỳ trước và trong khi xảy ra đại dịch COVID- 19” cho ra kết quả: Tỷ lệ người có các triệu chứng trầm cảm ở Hoa Kỳ cao hơn trong thời gian bùng phát đại dịch COVID-19 so với trước COVID-19. Trong thời gian diễn ra COVID-19, hầu hết cư dân Hoa Kỳ (52,5%) có các triệu chứng trầm cảm nhẹ trở lên; trước COVID-19, (24,7%) cư dân Hoa Kỳ có các triệu chứng tram cảm nhẹ trở lên.
Nhìn chung, tỷ lệ hiện mắc cao hơn 1,5 lần đối với các triệu chứng tram cảm nhẹ, cao hơn 2,6 lần đối với các triệu chứng tram cảm vừa, cao hơn 3,7 lần đối với các triệu chứng tram cảm vừa phải va cao hơn 7,5 lần đối với các loại triệu chứng tram cảm nặng trong COVID-19 so với trước COVID — 19. Gần đây nhất, WHO (2022) đã công bồ trong một bản tóm tắt khoa học, trong suốt năm 2020, đại dịch đã dẫn đến sự gia tăng 27,6% các trường hợp mắc chứng rồi loạn tram cảm nghiêm trọng va tăng 25,6% các trường hop rỗi loạn lo âu trên toàn cầu.[20] Tại Việt Nam, tuy chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu hay phát triển mạnh về lĩnh vực tâm ly, tuy nhiên, sau 2 năm trải qua đại dịch COVID-19, các nghiên cứu đang ngày càng nhiều hơn về số lượng và nâng cao về chất lượng, gop phần đóng góp quan trọng vào nhận biết, điều trị và phòng ngừa rối loan tram cảm, đặc biệt là trong và sau giai đoạn bùng nỗ của COVID-19. Hùng Mạnh Thân và cộng sự (2020), qua nghiên cứu về Sức khỏe tâm thần và chất lượng cuộc sông của các nhân viên y tế tuyến đầu cho thấy, trong số 173 nhân viên y tẾ, ty lệ các triệu chứng trầm cảm, lo âu và căng thắng được báo cáo lần lượt là 20,2%, 33,5% và 12,7%.[9] Nghiên cứu về “Tác động tâm lý của COVID-19 trong thời kì giãn cách đầu tiên” của Khanh Ngoc Cong Duong và cộng sự (2020) cũng chỉ ra rằng, hơn một phần ba số người được hỏi trải qua tình trạng đau khô tâm lý (35,9%), gần một phan tư có biểu hiện tram cảm và căng thang (lần lượt là 23,5% và 22,3%), và 14,1% bi lo lắng. Kêt quả nghiên cứu cũng chi ra các yêu tô tác động đên sức khỏe tâm lý và tinh than, như những người thất nghiệp, những người có tình trạng sức khỏe thể chất kém hoặc những người sống trong khu vực có các trường hợp COVID-19.
Ngoài ra, những người tham gia làm việc tại nhà dé bị tram cảm hơn những người có thé đi làm. Điều này có thé là do sự tương tác xã hội giảm và những người làm việc ở nhà bị phân tâm nhiều hon từ những tin tức liên quan đến đại dịch, khiến gia tăng chứng tram cảm của họ. Đặc biệt, nghiên cứu cho thấy những người thất nghiệp được coi là có tình trạng sức khỏe tâm lý và tinh than tồi tệ nhất trong số các nghề nghiệp. [ I I] Bên cạnh đó, nghiên cứu về “Ty lệ tram cảm ở Việt Nam trong đại dịch Covid- 19: Một đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp” của nhóm tác giả Quang Duc Tran, Thi Quynh Chi Vu, Ngoc Quang Phan (2022) cho thấy ty lệ người Việt Nam mắc trầm cảm trong kết quả của nghiên cứu cao hơn 6 lần so với số liệu của Bệnh viện Tâm thần Quốc gia Việt Nam.
Cụ thé là có 14,636% người Việt Nam bị tram cảm và có bằng chứng cho thay đại dịch Covid-19 đã gây ảnh hưởng tâm lý đáng ké đối với các chuyên gia chăm sóc sức khỏe so với nhân viên không phải là nhân viên chăm sóc sức khỏe.[ 16] Nghiên cứu của Hoàng Bắc Nguyên và cộng sự (2022) trên 1544 phản hồi, phan lớn là nữ (53,0%), 18-39 tuổi (74,8%) và được cách ly và điều trị tại bệnh viện dã chiến (72,2%) chi ra tỷ lệ chung của PTSD, lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân COVID-19 lần lượt là 22,9%, 11,2% và 17,4%. [8] Thông qua các nghiên cứu trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, có thé thấy, sự gia tăng tỷ lệ rỗi loạn tram cảm nghiêm trọng từ năm 2020 đến nay đều có xu hướng gia tăng, hầu hết liên quan đến việc tăng tỷ lệ nhiễm SARS-CoV-2 và giảm kha năng vận động, tương tác của tat cả mọi người. COVID-19 dé lại tác động rất nặng nề cả về kinh tế, xã hội, thé chất và tinh thần con người. Việt Nam ta được đánh giá là một trong những nước phòng, chống dịch tốt, nhưng những hệ lụy do COVID-19 gây ra không hề đễ dàng vượt qua với toàn bộ công dân Việt Nam.
Tuy rằng đất nước ta có tình hình kiểm soát dịch chặt chẽ, nhưng hệ thống y tế còn nhiêu hạn chê, nhiêu người dân còn nghẻo, đặc biệt là lĩnh vực sức khỏe tâm thân tại nước ta chưa được quan tâm đúng mức. Chính vì vậy, cơn bão COVID-19 đi qua đã dé lại những di chứng nặng nè về tinh than, tâm ly cho các y bác sĩ, quân nhân đêm ngày vất vả, chứng kiến những hoàn cảnh đau lòng hay bắt cứ ai trong chúng ta phải cách ly dai ngày, đón nhận những tin tức bàng hoàng từ thé giới bên ngoài thông qua màn hình tivi, điện thoại, hay thậm chí có những mat mát nặng nề về người về của. Tất cả những khó khăn đó đều gây ra cho người dân trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng những rối loạn tâm thần, thường gặp nhất là rối loạn lo âu và trầm 2 cam. Các bằng chứng hiện tai cho thấy ti lệ người mắc tram cảm sau khi xuất hiện đại dịch COVID-19 đã tăng rất nhanh và việc nhanh chóng chân đoán, điều trị trầm cảm càng sớm càng tốt với mục đích giảm gánh nặng bệnh tật là hoạt động cần thiết.
Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu đa phần đang dừng lại ở việc điều tra thực trạng rối loạn tram cảm ở các nước khác nhau và chưa có nhiều nghiên cứu mang tính chất ứng dụng các liệu pháp trên TC có rối loạn trầm cảm với đặc thù liên quan tới bối cảnh COVID-19. Điều này không khó hiểu bởi sự xuất hiện của đại dịch mới trong 2 năm gần đây và cả thế giới đều đã, đang có những tốn thất nhất định và cần thời gian để phục hồi, nghiên cứu. Đặc biệt là tại Việt Nam khi những điều kiện về nhân lực, vật lực còn hạn chế cộng thêm sự ảnh hưởng không nhỏ từ đại dịch khiến cho nước ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu cụ thé, cặn kẽ về điều trị trầm cảm liên quan tới COVID-19. Một số vấn đề lý luận về trầm cảm trong bối cảnh đại dịch COVID-19 1.
Các khái niệm cơ bản + Khái niệm trầm cảm Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO (1992): Tram cảm là một rối loạn tâm thần phô biến, đặc trưng bởi sự buồn bã, mat đi hứng thú hoặc khoái cảm, cảm thay tội lỗi hoặc tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rỗi loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và kém tập trung.[19] Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ định nghĩa, tram cảm là một bệnh lý phố biến va nghiêm trọng ảnh hưởng tiêu cực đến cách bạn cảm thấy, cách bạn suy nghĩ và cách bạn hành động. Tram cảm gây ra cảm giác buồn và/ hoặc mat hứng thú với các hoạt động mà bạn từng yêu thích. Nó có thể dẫn đến một loạt các vấn đề về cảm xúc và thể chất và có thé làm giảm khả năng hoạt động của ban tại nơi làm việc và ở nhà. [3] Theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) về các rối loạn tâm thần và hành vi, trầm cảm là một hội chứng bệnh lý của cảm xúc biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phô biến là mệt mỏi rõ rệt chi sau một cô gắng nhỏ.
Các triệu chứng này ton tại trong một khoảng thời gian tối thiểu là 2 tuần liên tục. Những biểu hiện này được coi là các triệu chứng có ý nghĩa lâm sàng nhất trong việc chân đoán [14]. + Khái niệm Covid 19 Coronavirus là một họ vi rút có thể gây bệnh đường hô hấp ở người. Dòng coronavirus mới - SARS-CoV-2 - được báo cáo lần đầu tiên ở Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019.