CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về thành phố Phan Rang – Tháp Chàm Phan Rang - Tháp Chàm từng là kinh đô Panduranga của Vương quốc Champa cổ. Ngày 26 tháng 2 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 252/QĐ- TTg công nhận thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Ninh Thuận. Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là đô thị tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học công nghệ của tỉnh Ninh Thuận.
Nằm trong hệ thống đô thị của vùng Duyên hải Nam Trung bộ là một trong những trọng điểm du lịch của miền Trung và của cả nước. Thành phố là đầu mối giao thông liên vùng có tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua, đồng thời là trung tâm giao lưu kinh tế với vùng Tây Nguyên, vùng duyên hải miền Trung, khu kinh tế trọng điểm phía Nam và miền Đông Nam bộ. Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có 16 đơn vị hành chính gồm 15 phường (Đô Vinh, Bảo An, Phước Mỹ, Phủ Hà, Mỹ Hương, Thanh Sơn, Kinh Dinh, Đài Sơn, Đạo Long, Tấn Tài, Mỹ Hải, Mỹ Đông, Đông Hải, Mỹ Bình, Văn Hải) và 1 xã Thành Hải. Với tổng diện tích đất tự nhiên 79 1708 km2.
Đất xây dựng đô thị hiện trạng: 15 359 km2 (bao gồm các loại đất: đất ở đô thị, đất công trình công cộng, đất cây xanh, TDTT, đất giao thông khu vực nội thành). Bản đồ hành chính thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Thành phố Phan Rang – Tháp Chàm là đô thị đồng bằng ven biển nam trung bộ, nằm ở phía Nam tỉnh ninh Thuận, có tọa độ địa lý từ 11031’32’’ đến 11040’08’’ Vĩ độ Bắc, từ 108054’50’’ đến 108003’26’’ Kinh độ Đông; 5 - Phía Bắc giáp Huyện Ninh Hải - Phía Nam giáp Huyện Ninh Phước - Phía Tây giáp Huyện Ninh Sơn – Bác Ái - Phía Đông giáp Biển Đông Thành phố Phan Rang có vị trí là đầu mối tại khu vực ngã ba giữa trục giao thông quốc lộ 1A với quốc lộ 27 đi Đà Lạt, đồng thời có tuyến đường sắt thống nhất Bắc - Nam đi qua ga Tháp Chàm, rất thuận lợi cho vận chuyển hành khách và hàng hoá bằng đường bộ và đường sắt, cách cảng biển và cảng hàng không Quốc tế Cam Ranh 60km và Thành phố Nha Trang 100km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 350km về phía Nam, cách thành phố Đà Lạt 110km về phía Tây, hình thành tam giác phát triển Đà Lạt- Phan Rang - Nha Trang [13] 1.
Đặc điểm địa hình Địa hình và đất đai tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 3m-5m so với mặt nước biển, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có thể chia làm 3 loại: + Dạng địa hình đồi thấp: tập trung tại khu vực Tháp Chàm có độ cao từ 15 - 55m, độ dốc sườn đồi 10% - 30%. + Dạng địa hình bằng phẳng: bao gồm khu vực phù sa ven sông và các khu ruộng cao, có độ cao từ 3 - 15m, độ dốc địa hình 1% - 10%. + Địa hình thấp trũng: bao gồm các khu ruộng trũng, ao hồ xen kẽ, cao độ dưới 2.5m, thường bị ngập nước. Đặc điểm khí hậu Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng gió nhiều và khô nóng, nhiệt độ cao quanh năm, trung bình 27oC- 32oC, số giờ nắng 2.000 giờ; lượng mưa trung bình 900-1100mm/năm; chế độ gió theo 2 hướng: Đông Bắc và Tây Nam, tốc độ trung bình 2,7m/s.
Thời tiết có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau. 6 Với khí hậu đặc trưng khô nắng quanh năm, Phan Rang-Tháp Chàm sẽ là điều kiện tốt để phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng kết hợp các loại hình giải trí trên biển, trên không; thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp với các đặc sản của địa phương như nho, hành, tỏi,… phát triển chăn nuôi gia súc như bò, dê, cừu,… [1] [2] [13] 1. Đặc điểm thuỷ văn Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thuỷ văn sông Dinh. Sông Dinh còn gọi là sông Cái Phan Rang bắt nguồn từ dãy núi cao E Lâm Thượng giáp với tỉnh Lâm Đồng đổ ra biển Đông ở vịnh Phan Rang.
Sông Dinh chịu ảnh hưởng của cả hai yếu tố triều và lũ. Sông có chiều dài 119 km với diện tích lưu vực 3.000 km2, lưu lượng trung bình 39 m3/s do thủy điện Đa Nhim xả để phục vụ tưới cho 12. Ở vùng thượng nguồn của sông có dạng bậc thềm có độ cao 800m ÷ 1000m, lòng sông dốc và có đá tảng, lưu vực các nhành sông phân bố hình rễ cây. Từ Tân Mỹ về xuôi sông chảy qua vùng đồi thấp là đồng bằng Phan Rang, chế độ dòng chảy của sông phù hợp với phân bố mùa của khu vực.
Dòng chảy có lớn và có lũ về mùa mưa (Tháng 10 đến tháng 12) và lưu lượng thấp về mùa khô (tháng 1 đến tháng 8). Mực nước ở Phan Rang bị ảnh hưởng bởi thủy triều (thủy triều ngày lẻ) với biên độ 0.3cm, mực nước cao nhất với tần suất lũ 1% là 6.05m, cao hơn nhiều khu vực trũng của thành phố. Mực nước cao nhất tại sông Dinh (m) là 6.05 ứng với các tần suất lũ (%) 1, 5, 10, 20, 50 và 100. + Mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12 + Mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8.
Dòng chảy phụ thuộc vào việc xả nước tới của thủy điện Đa Nhim cho hạ du + Tháng 10 thường xuất hiện mức nước cao nhất trong năm và cũng là tháng có mức nước bình quân cao nhất. 7 Các sông đều có 2 thời kỳ lũ, lũ tiểu mãn và lũ chính vụ. Lũ tiểu mãn thường cũng khá lớn, chiếm từ 10-30% số trận lũ lớn. Thời gian xảy ra lũ lớn thường kéo dài trong khoảng 4 tháng, từ tháng 9 đến tháng 12.
Do Sông Dinh có độ dốc lớn nên thời gian lũ lên và lũ xuống diễn ra nhanh, thời gian lũ ngắn và thường có 1 đỉnh. Những trận lũ tần suất dưới 10% thường là lũ không lớn, tuy nhiên trên 10% thường là lũ lớn. Trận lụt lịch sử ngày 17-12-1964 cũng do chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão. Cầu Đạo Long ngập sâu 0.
Cao độ mực nước Sông Dinh được đo tại 2 trạm là Tân Mỹ và Phan Rang (chân cầu Đạo Long). Cấp báo động lũ cấp I, II, và III tại trạm Sông Dinh là 1.1: Mực nước sông Dinh lớn nhất khi có mưa lũ ứng với các tần suất Tần suất P(%) 1 5 10 20 50 100 Mực nước H max (mm) 605 548 518 479 407 205 (Nguồn: [1]) Mực nước tại Phan Rang có ảnh hưởng thủy triều (nhật triều không đều) với biên độ 0. Địa chất thuỷ văn Mực nước ngầm thay đổi theo mùa. Mùa mưa một số nơi mực nước bằng mực nước mặt, nước ngầm màu hơi vàng và hơi lợ vì chịu ảnh hưởng của nước biển 1.
Đặc điểm kinh tế, xã hội 1. Dân số Dân số toàn Thành phố: Năm 2015, tổng dân số trung bình của thành phố khoảng 165.76 người, mật độ dân số là 1147.04 người/km2 Dân cư phân bố không đều, mật độ dân cư cao nhất tại phường Kinh Dinh (19 550 người/km2), sau đến phường Đông Hải (9 790 người/km2), phường Mĩ Hương (9 520 người/km2) và thấp nhất tại phường Đô Vinh (444 người/km2) 8 Dân số và đặc điểm dân cư: Theo Niên giám thống kê thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tính đến cuối năm 2014, toàn thành phố có 170,720 nhân khẩu. Sự phân bố dân cư trong năm 2015 theo các đơn vị hành chính của thành phố được trình bày ở bảng dưới đây: Bảng 1.2: Diện tích và phân bố dân cư thành phố Phan Rang – Tháp Chàm Tên phường, xã Diện tích (km2) Dân số (nghìn người) Mật độ Phường Bảo An 3.12 Phường Kinh Dinh 0.55 Phường Mĩ Bình 4.63 Phường Mĩ Hương 0.52 Phường Mĩ Hải 2.22 Phường Mĩ Đông 2.15 Phường Phước Mĩ 5.91 Phường Phủ Hà 1.82 Phường Thanh Sơn 0.76 Phường Tấn Tài 2.85 Phường Văn Hải 9.50 Phường Đài Sơn 1.52 Phường Đô Vinh 30.44 Phường Đông Hải 2.79 Phường Đạo Long 2. Về kinh tế Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm được thủ tướng chính phủ phê duyệt là đô thị loại II theo quyết định số 252/QĐ-Ttg ngày 26/2/2015.
Việc công nhận thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Ninh Thuận phù hợp với 9 định hướng phát triển chung của quốc gia và phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển của tỉnh Ninh Thuận. Mặc dù tình hình kinh tế chung của cả nước còn khó khăn, nhưng Thành phố vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trong 3 năm qua. Thành phố có thu nhập bình quân đầu người/năm gấp 1.45 lần so với cả nước; mức tăng trưởng kinh tế trung bình giai đoạn 2012 - 2014 đạt 14. Thành phố có một số lĩnh vực phát triển như chế biến gỗ, vật liệu xây dựng, thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch và xuất khẩu có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội cho tỉnh Ninh Thuận và khu vực lân cận.
Thành phố đã có những bước đi quan trọng và chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho việc phát triển hai nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận và phát triển năng lượng sạch Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm năm 2015 đạt khoảng 1.328 tỷ đồng, chiếm 73% tổng thu ngân sách của toàn tỉnh, thu nhập bình quân đầu người đạt 40.3 triệu đồng, cao hơn so với bình quân đầu người của tỉnh Ninh Thuận là 28. Tốc độ tăng trường bình quân đạt 13. Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội thành phố PR-TC năm 2016-2020, thành phố sẽ duy trì mức độ tăng trưởng khoảng 13-14%, trong đó tâp trung phát triển Thương mại dịch vụ (60%), Xây dựng (35%) và Nông nghiệp, thủy sản (5%). [12] Lực lượng lao động trong độ tuổi của Thành phố có khoảng 104200 người chiếm gần 60% dân số của Thành phố, với đội ngũ khoảng 5280 cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ từ cao đẳng trở lên với độ tuổi trẻ cần cù, ham học hỏi và được đào tạo khá tốt, có khả năng tiếp cận nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật; trong thời gian tới trên địa bàn Thành phố sẽ xây dựng một số sơ sở đào tạo chất lượng, sẽ thu hút một lực lượng lớn lao động trẻ có trình độ cao đến học tập và làm việc.
Đây là một trong thế mạnh, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.