mở đầu cho một sự nghiệp rạng rỡ như hôm nay. Tiêu biểu như: Bác Nguyễn Lý, Bác Tào Quang An, Bác Nguyễn Vạn Thuận, Bác Đào Khảng, cô Nguyễn Thị Minh Lan, Bác Thục Chương v.v cùng với một lớp trẻ năng động, sức khỏe và đầy nhiệt huyết, như Bác Võ Bá Thắng, Bác Chấn, Bác Nguyễn Bá, Bác Hà, … Với quyết tâm của toàn Đảng và thể theo nguyện vọng của nhân dân tỉnh Nghĩa Bình lúc bấy giờ. Ngày 8 tháng 02 năm 1980, Bảo tàng Nghĩa Bình ra đời, trụ sở chính tọa lạc số nhà 26 Nguyễn Huệ, thành phố Quy Nhơn. Bảo tàng Tổng hợp Nghĩa Bình từ năm 1980 đến năm 1989 Thực hiện Quyết định số 220/UBND ngày 8 tháng 02 năm 1980, về việc thành lập nhà Bảo tàng Nghĩa Bình, trụ sở tại số nhà 26 Nguyễn Huệ, thành phố Quy Nhơn.
Diện tích mặt bằng tổng thể hiện trạng là 3. Đông và bắc giáp trường Trung học phổ thông Trưng Vương, phía Tây giáp trường Đảng. Bảo tàng gồm 01 nhà trưng bày và 4 phòng trong đó có 01 phòng dùng để làm kho gìn giữ, bảo quản hiện vật và là nơi làm việc của cán bộ làm công tác chuyên môn, 01 phòng kế toán và 02 phòng cho cán bộ lãnh đạo. Hoạt động của Bảo tàng Tổng hợp Nghĩa Bình cơ bản là Bảo tàng khảo cứu địa phương là cơ quan nghiên cứu khoa học và giáo dục phổ biến khoa học là kho tàng chủ yếu giữ gìn những di vật lịch sử tự nhiên, văn hóa vật 16 chất và văn hóa tinh thần có liên quan đến lịch sử tự nhiên và xã hội.
Bao gồm 6 khâu công tác chính: Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và công tác quần chúng. Ngoài ra Bảo tàng tỉnh, thành phố có trách nhiệm hướng dẫn về nghiệp vụ cho Bảo tàng và nhà truyền thống các huyện thị trong tỉnh. Lực lượng cán bộ và nhân viên có lý tưởng và nhiệt tình nhưng hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Lúc này, vừa mới nhận Bảo tàng nên việc tiến hành xây dựng nhà trưng bày Bảo tàng được tiến hành khẩn trương, Bảo tàng đã lên kế hoạch thống kê tài liệu hiện vật, xây dựng đề cương lên kế hoạch sưu tầm; tổ chức sưu tầm trên phạm vi toàn tỉnh với nhiều hình thức sưu tầm như: Tổ chức trưng bày triển lãm chuyên đề, tổ chức các buổi nói chuyện với dân, đến các đơn vị tổ chức xã hội để sưu tầm hiện vật.
Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ty Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình sự ủng hộ nhiệt tình của mọi tầng lớp nhân dân, sự giúp đỡ của Bộ Văn hóa và các Bảo tàng Trung ương, với sự phấn đấu hết mình của các thế hệ cán bộ ngành văn hóa, năm 1981 Bảo tàng Tổng hợp Nghĩa Bình ra đời và từng bước đi vào hoạt động và từng bước trưởng thành trên mọi mặt. Sơ đồ cơ cấu tổ chức và cán bộ giai đoạn (1980 – 1989) BAN CHỦ NHIỆM PHÒNG BẢO TÀNG PHÒNG BẢO TỒN Bảo tàng do 01 Chủ nhiệm điều hành và 01 Phó chủ nhiệm giúp việc, là đơn vị trực thuộc Ty Văn hóa và Thông tin. Các phòng chuyên môn nghiệp vụ: Phòng Bảo tàng với chức năng nhiệm vụ: Trưng bày, Sưu tầm, kiểm kê, 17 bảo quản, giám định hiện vật; ngoài ra tổ chức nghiệp vụ, hướng dẫn, giúp đỡ về chuyên môn cho các huyện thị, toàn tỉnh Nghĩa Bình. Phòng trưng bày tuyên truyền: Thực hiện công tác thuyết minh tại Bảo tàng có nhiệm vụ nghiên cứu, phổ biến, truyền thụ kiến thức khoa học cung cấp cho cán bộ và nhân dân hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên lịch sử xã hội của Nghĩa Bình nhằm trực tiếp phục vụ công cuộc lao động sản xuất và chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
Phòng sưu tầm, kiểm kê, bảo quản: Thực hiện công tác sưu tầm hiện vật trên toàn tỉnh; gìn giữ bảo quản tài liệu hiện vật. Phòng bảo tồn: Thực hiện công tác bảo tồn di tích trên toàn tỉnh, kiểm kê di tích, lập hồ sơ di tích, khai quật khảo cổ học. Trưởng phòng, chịu trách nhiệm chính trước Chủ nhiệm trong việc phân công nhiệm vụ, cho từng nhân viên trong phòng. Công tác quản lý di tích trên toàn tỉnh Nghĩa Bình.
Từ năm 1976 đến năm 1989, việc bảo tồn và tôn tạo di tích được chú trọng, công tác tuyên truyền về chủ trương chính sách của đảng, Nhà nước và phổ biến mục đích ý nghĩa của công tác bảo vệ di sản văn hóa đến từng địa phương, để nhân dân hiểu và phát huy tác dụng di tích. Đồng thời tiến hành khảo sát, điều tra tổng thể các loại hình di tích văn hóa Chămpa, trên toàn tỉnh về tìm hiểu về văn hóa Chămpa trên các lĩnh vực nghiên cứu kiến trúc tháp, văn bia, các tòa thành cổ. Bảo tàng đã tiến hành lập hồ sơ khoa học và bản đồ khảo cổ học cho các di tích, phế tích trên địa bàn tỉnh Nghĩa Bình, Ngoài ra tiến hành lập hồ sơ khoa học về các di tích thời Nguyễn, di tích cách mạng và di tích danh thắng. Tính đến từ năm 1976 đến năm 1989 toàn tỉnh Nghĩa Bình đã được Bộ Văn hóa Thông công nhận: 7 di tích xếp hạng di tích cấp Quốc gia trong đó có 4 di tích xếp hạng loại hình kiến trúc nghệ thuật và 3 di tích xếp hạng loại hình lịch sử.
Công tác khai quật khảo cổ học. Từ sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, trên vùng đất Bình Định, việc xúc tiến nghiên cứu các nền văn hóa cổ xưa được đẩy mạnh, đã đem lại nhiều kết quả khả quan. Năm 1977, tại địa điểm Truông Xe, Gò Lồi, Thuận Đạo, Chánh Trạch thuộc xã Mỹ Thắng huyện Phù Mỹ; Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp, thành phố Quy Nhơn, các di tích đã được phát hiện, các di tích này trong những năm 1977 – 1978, Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát và đào thám sát. [75,tr12] Từ năm 1980 đến năm 1982, các di tích này được khai quật trong đó có di tích Truông Xe, di tích Gò Lồi, Thuận Đạo, Chánh Trạch, huyện Phù Mỹ được đào thám sát.
Qua điều tra, những người tham gia khai quật đã có nhận xét di tích Truông Xe đây là nhóm di tích sớm, có niên đại sơ kỳ đồng thau, riêng Thuận Đạo, Chánh Trạch thuộc giai đoạn muộn sơ kỳ sắt. Các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh Bảo tàng Tổng hợp Nghĩa Bình tiếp tục đào thám sát gồm các di tích: di tích Hội Lộc, di tích núi Ngang, di tích Đồi Điệp tiếp tục tiến hành khảo sát. Đặc biệt trong thời gian này Di tích Truông Xe, đã phát hiện được tầng văn hóa dày 1,3m. Trong tầng văn hóa thu được 1 rìu đá hình răng trâu, 3 rìu tứ giác, bốn đục nhỏ hình lưỡi xòe, 7 bàn mài, 1 chày nghiền, 2 phác vật đục.
Đồng thời, trong hai hố thám sát đã phát hiện 2 mộ vò có dáng hình trứng, và 1 mộ vò có hình bầu dục có vò nhỏ khác úp lên trên. Hiện vật tìm thấy trong mộ gồm 2 bình gốm, một nồi minh phí, sau khi khảo sát Truông Xe, đoàn đã tiến hành khai quật trên một diện tích 150m2 trong hố khai quật đã phát hiện được 2 vò chôn đứng, các vò đều chôn úp lên nhau, tại một hố khác cách khu khai quật 50m, trong hố khai quật đã tìm thấy 1 rìu đá hình chữ nhật, 1 rìu hình răng trâu, 1 vòng tay đá và 2 con kê. Ngoài những di tích mang sắc thái, đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh, 19 Bình Định là vùng đất nằm giữa trục Bắc Nam cho nên được xem là nơi hội tụ các luồng văn hóa khác nhau. Đông Sơn ở bắc, Phù Nam, Chân Lạp ở nam, cho nên trên mảnh đất này, không chỉ riêng văn hóa Sa Huỳnh như đã thấy, mà còn thấy cả dấu vết của văn hóa Đông Sơn, di vật mang sắc thái nền văn hóa này đã chứng minh cho điều đó.
Cho đến nay, trên vùng đất Bình Định đã phát hiện 14 trống đồng Đông Sơn loại I. Tuy phát hiện một cách ngẫu nhiên, nhưng sự có mặt của những hiện vật này không thể không phủ nhận về mối quan hệ giao lưu trao đổi giữa cư dân Sa Huỳnh và cư dân Đông Sơn trong quá khứ. Công tác nghiên cứu sưu tầm, kiểm kê, bảo quản. Công tác nghiên cứu sưu tầm tài liệu - hiện vật gốc là công tác nghiên cứu thu thập và lựa chọn theo phương pháp khoa học những tài liệu, những hiện vật gốc về lịch sử, tự nhiên và xã hội, tùy theo loại hình bảo tàng mà ta tiến hành và bổ sung hiện vật gốc cho kho cơ sở.
Khi sưu tầm hiện vật, hiện vật phải là hiện vật gốc phù hợp với nội dung cần sưu tầm, ghi chép lập hồ sơ đầy đủ, mang tính chất cơ sở ban đầu cho mọi hoạt động. Nhiệm vụ của công tác sưu tầm: Sưu tầm tài liệu hiện vật gốc để xây dựng kho cơ sở và bổ sung kho cơ sở phù hợp với những nội dung chủ yếu của bảo tàng; Sưu tầm các phần trưng bày, chỉnh lý cải tiến mở rộng trưng bày; Nghiên cứu thu thập tài liệu hiện vật gốc để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và phục vụ công tác giáo dục quần chúng. Tính chất khoa học của công tác sưu tầm: Toàn bộ hoạt động của công tác sưu tầm phải hiện thực khách quan. Không xuyên tạc sự thật lịch sử hay bịa đặt lịch sử, những hiện vật gốc phải minh chứng cho những sự kiện hiện tượng trong lịch sử tự nhiên và xã hội mà tài liệu- hiện vật gốc đó tồn tại một cách khách quan.
Không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bảo tàng hoặc 20 cảm tính của người sưu tầm. Có nghĩa là không phải bất cứ hiện vật gì cũng đem về, mà người cán bộ sưu tầm phải dựa vào loại hình tính chất sưu tầm hiện vật tài liệu – gốc phải phù hợp với nội dung tính chất của bảo tàng, vì vậy cán bộ sưu tầm cần phải biết chọn lọc, đánh giá giá trị hiện vật, không nên đưa về bảo tàng khi chưa biết giá trị lịch sử, nội dung lịch sử, nó đòi hỏi cán bộ chuyên môn phải có kiến thức khoa học và kiến thực chuyên môn để xác định tính chất giá trị lịch sử khoa học hoặc nghệ thuật. Hiện vật phải được ghi chép một cách trung thực với nội dung, giá trị hiện vật không nên tô điểm, phóng đại đó là công việc người cán bộ chuyên môn phải làm. Hiện vật sưu tầm phải được lập kế hoạch dài hạn hoặc kế hoạch sưu tầm.