MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Trong những năm gầy đây, mạng không dây ngày càng phổ biến với nhiều ưu điểm như giá thành hợp lý, tính di động cao, tiện lợi trong việc sử dụng. Tuy nhiên, với tính chất truyền thông quảng bá tự nhiên của các mạng này, bất kỳ người nhận nào trong phạm vi của một truyền dẫn không dây có khả năng nghe được thông tin truyền đi.
Do đó, bảo mật là mối quan tâm then chốt trong các mạng không dây. Do độ phức tạp và độ trễ thấp, cũng như tính khả thi ở lớp vật lý (PHY) và khả năng cùng tồn tại với các cơ chế bảo mật mã hóa hiện có mà nó có thể nâng cao mức độ tổng thể về an toàn thông tin. Vì vậy, bảo mật ở lớp PHY dựa trên thuyết thông tin đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trên khắp thế giới. Mạng không dây thế hệ tiếp theo (là mạng sau mạng di động 5G) sẽ bao gồm nhiều công nghệ mới, trong đó có các công nghệ như mạng điện toán biên di động MEC (Mobile edge computing networks), mạng truyền năng lượng vô tuyến RF (Radio Frequency Power Transfer Networks) và đa truy cập phi trực giao NOMA.
Việc tìm hiểu, khảo sát và đề xuất các giao thức nhằm nâng cao khả năng bảo mật cho mạng không dây thế hệ tiếp theo là rất cần thiết, Luận văn nghiên cứu các cơ chế lựa chọn điểm truy cập (máy chủ biên), từ đó đi đánh giá và so sánh khả năng bảo mật ở tầng vật lý trong mạng điện toán biên di động truyền năng lượng không dây này nhằm tìm ra một giao thức lựa chọn máy máy chủ có khả năng bảo mật tốt nhất. Chính vì những lý do trên, dưới sự hướng dẫn của TS. Hà Đắc Bình, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Đề xuất giải pháp tăng cường khả năng bảo mật của mạng không dây thế hệ tiếp theo”. Mục tiêu nghiên cứu - Đề xuất cơ chế giải tải cho mạng điện toán biên di động có xem xét đến truyền năng lượng vô tuyến RF và sử dụng cơ chế đa truy cập phi trực giao NOMA.
- Phân tích và dùng phương pháp mô phỏng để đi đánh giá hiệu năng bảo mật của hệ thống thông qua đại lượng xác suất dừng bảo mật. - Phân tích và đưa ra các biểu thức dạng tường minh để đánh giá hiệu năng của hệ thống NOMA-MEC sử dụng đại lượng xác suất tính toán thành công. - Mô phỏng và đánh giá hiệu năng của hệ thống trên theo các tham số chính như tỉ số tín hiệu trên nhiễu truyền trung bình, công suất phát, hệ số phân bổ công suất, hệ số phân bổ tác vụ. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Thực hiện nghiên cứu lý thuyết về lĩnh vực điện toán biên di động; một số vấn đề về truyền thông không dây, tổng quan về kỹ thuật truyền năng lượng qua sóng vô tuyến, kỹ thuật đa truy cập phi trực giao NOMA, lý thuyết thông tin và bảo mật lớp vật lý. - Nghiên cứu mô tả giả thuyết quá trình giảm tải của một mạng điện toán biên di động thu năng lượng RF. Đồng thời trình bày lưu đồ của quá trình giảm tải. Thông qua đó đề xuất và phân tích các giao thức hoạt động cho các hệ thống NOMA-MEC đề xuất; Cũng như phân tích hiệu năng của hệ thống.
Đồng thời cũng đi tính toán xác suất dừng bảo mật của các hệ thống NOMA- MEC đề xuất. Căn cứ vào các kết quả phân tích toán học xây dựng chương trình và mô phỏng nhằm đánh giá trực quan về hiệu năng của hệ thống như đã khảo sát. Đối tượng, phạm vi, cách tiếp cận.1 Đối tượng nghiên cứu. - Kênh truyền vô tuyến: Rayleigh.
- Điện toán biên Edge Computing. - Các thông số hiệu năng: Xác suất dừng bảo mật, Xác suất tính toán thành công. - Các giao thức và cơ chế truyền thông không dây: kỹ thuật đa truy cập phi trực giao (NOMA), kỹ thuật truyền năng lượng vô tuyến.2 Phạm vi nghiên cứu. - Lý thuyết thông tin và xác suất thống kê.
- Mạng điện toán biên di động. Phương pháp nghiên cứu. - Bám sát các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này, đánh giá kết quả đạt được bên cạnh các điều kiện giả sử đi kèm và đề xuất hướng giải quyết tốt hơn. - Dựa trên các hướng nghiên cứu đề xuất, nhóm nghiên cứu sử dụng các phương pháp và kỹ thuật sau: Lựa chọn kênh truyền (Rayleigh) phù hợp và xây dựng mô hình toán học.
Lựa chọn thông số đánh giá là xác suất dừng bảo mật, xác suất tính toán thành công. Phân tích các thông số chất lượng, biểu diễn ở dạng tường minh. Xây dựng chương trình mô phỏng trên phần mềm Matlab. Khảo sát ảnh hưởng của các tham số mạng và kênh truyền lên hiệu năng của hệ thống.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 6. Truyền thông bảo mật đã thu hút được nhiều sự quan tâm khi NOMA được áp dụng cho hệ thống MEC. Ví dụ: hai người dùng đang giảm tải các tác vụ cho máy chủ MEC trong cùng một khoảng thời gian bằng cách sử dụng NOMA đường lên. Khi bộ triệt tiêu can nhiễu SIC được sử dụng, một người dùng có thể giải mã tín hiệu của người dùng khác.
Lúc đó, kẻ nghe trộm hoặc kẻ tấn công có thể cố gắng giải mã tin nhắn của người dùng di động. Bảo mật lớp vật lý có thể được sử dụng để đối phó với thách thức này đối với hệ thống NOMA-MEC. Sự kết hợp giữa PLS và NOMA-MEC là một chủ đề nghiên cứu đầy hứa hẹn. Tại Việt Nam, theo tìm hiểu của chúng tôi, chưa có nhiều công trình nghiên cứu nào thực hiện giải quyết các vấn đề đã nêu trên.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Giới thiệu Ngày nay, với sự phát triển chóng mặt của khoa học công nghệ, thời đại IoT (Internet of Things) đang dần ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Các thiết bị như đồng hồ thông minh, vòng đeo tay theo dõi sức khỏe, thiết bị cảm biến trên xe hơi, kính thông minh cho đến xe tự lái, giao thông thông minh, … đang dần được triển khai trong đời sống con người. Các thiết bị này đều tương tác với nhau qua mạng không dây và đòi hỏi phải có đường truyền tốc độ cao, an toàn và đặc biệt là phải bảo mật cao.
Do đó, mạng không dây thế hệ tiếp theo sau 5G tức B5G (Beyond 5G) là xu thế nghiên cứu đang được các nhà khoa học ưu tiên và đẩy mạnh công tác nghiên cứu. Như chúng ta đã biết, bất cứ mạng không dây nào đến thời điểm này đều có chung một tính chất đó là tính chất truyền quảng bá của sóng điện từ, chính điều này gây ra nguy cơ mất an toàn thông tin trong mạng không dây, các thiết bị không thân thiện có thể nghe lén thông tin hoặc chủ động tấn công. Điều này dẫn đến sự mất an toàn thông tin trong mạng không dây. Mặc dù, hiện nay có nhiều thuật toán bảo mật như RSA, DES… nhưng các thuật toán này chủ yếu dựa ba giả thiết: Một là các thiết bị nghe trộm có khả năng tính toán hạn chế; Hai là các thiết bị nghe trộm không có những giải thuật tính toán giải mật hiệu quả, tức là không có cách nào khác ngoài các vét cạn; Ba là đường truyền kết nối không bị lỗi.
Tuy nhiên, những giả thiết này không đủ sức thuyết phục do hiện nay có nhiều loại máy tính có khả năng tính toán rất lớn như siêu máy tính hay máy tính lượng tử và nhiều thuật toán mới hiệu quả hơn không ngừng ra đời. Hơn nữa, các thuật toán trên thường được thực hiện ở lớp ứng dụng, điều này làm tăng tải cho các mạng không dây, nó không phù hợp cho các mạng phân tán tuỳ biến ad hoc hay mạng cảm biến không dây. 6 Bên cạnh các lớp bảo mật khác thì chúng ta còn có bảo mật lớp vật lý để tăng cường thêm 1 giải pháp bảo mật của hệ thống không dây. Cụ thể, bảo mật lớp vật lý là một phương pháp lợi dụng đặc tính thay đổi ngẫu nhiên của kênh truyền vô tuyến đi thiết kế các giao thức để tăng dung lượng bảo mật của hệ thống.
Xem xét hệ thống truyền thông không dây như hình 1.1, Alice là máy phát, Bob là máy thu hợp pháp và Eve là thiết bị nghe trộm. Khi Alice biết các thông tin trạng thái kênh (CSI) cho các liên kết giữa Bob và Eve, nó có thể quyết định một codebook nghe trộm mà Bob có thể nhận được thông tin với tốc độ Rb-Re, trong đó Rb và Re lần lượt là tốc độ tại Bob và Eve mà không có sự tồn tại của bất kỳ codebook nghe trộm nào tại Alice. Ngược lại, khi Alice không có CSI từ Eve thì nó chỉ có thể phụ thuộc vào các kênh của Bob. Như vậy, Alice sẽ thiết lập ở bất kỳ tốc độ R nào.
Nếu R ≤ (RbRe) thì tính bảo mật có thể được thỏa mãn. Khi R> (RbRe) thì hiện tượng dừng xảy ra, tính bảo mật không còn. Bên cạnh dung lượng bảo mật, xác suất dừng bảo mật, Pr (RbRe ≤ R), cũng là một thước đo hiệu năng quan trọng mà những người thiết kế hệ thống cần phải biết. Mạng truyền thông với máy phát (Alice), máy thu (Bob) và thiết bị nghe trộm (Eve).
7 Bảo mật lớp vật lý cho mạng không dây đang là một hướng tiếp cận mới hiện nay cho việc tăng cường hơn nữa khả năng bảo mật của các hệ thống mạng không dây và nó đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh đó trong những năm gần đây, điện toán đám mây đã phát triển để trở thành dịch vụ lưu trữ dữ liệu và tính toán qua Internet hàng đầu. Điện toán đám mây [1] đã được áp dụng để phát triển các ngành công nghiệp như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bất động sản, tài chính, sản xuất và đặc biệt là Internet vạn vật (IoT). IoT được hỗ trợ bởi đám mây (Cloud-of Thing hay gọi tắt là CoT) đã được phát triển như một mô hình mang tính cách mạng cho phép các thiết bị, cảm biến IoT thông minh nhưng bị hạn chế tài nguyên kết nối với đám mây qua Internet.
Mô hình các lớp chức năng trong điện toán đám mây được trình bày trong hình 1.2, trong đó phân chia thành hai lớp rõ rệt: lớp đám mây chứa tài nguyên và lớp người dùng truy cập và sử dụng các tài nguyên. Thật vậy, điện toán đám mây đã thúc đẩy sự tăng trưởng của rất nhiều công ty Internet như Google, Microsoft, Amazon, Dropbox [2].