phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN LƢU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ DU LỊCH BESTPRICE Chƣơng 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ DU LỊCH BESTPRICE 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƢU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn lƣu động và nguồn hình thành vốn lƣu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn lưu động của doanh nghiệp Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tƣ liệu lao động các doanh nghiệp còn có các đối tƣợng lao động.
Khác với các tƣ liệu lao động, các đối tƣợng lao động (nhƣ nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó đƣợc chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Những đối tƣợng lao động nói trên, nếu xét về hình thái hiện vật đƣợc gọi là các tài sản lƣu động, còn về hình thái giá trị thì đƣợc gọi là vốn lƣu động của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp ngƣời ta thƣờng chia thành 2 loại là tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông. Tài sản lƣu động sản xuất bao gồm các loại nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang… đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc sản xuất, chế biến.
Tài sản lƣu động lƣu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trƣớc… Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành liên tục. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông, các doanh nghiệp phải bỏ ra một lƣợng vốn đầu tƣ ban đầu nhất định. Vì vậy, cũng có thể nói vốn lƣu động của các doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trƣớc để đầu tƣ, mua sắm các loại tài sản lƣu động của doanh nghiệp. Vốn lƣu động là điều kiện vật chất không thể thiếu đƣợc của quá trình tái sản xuất, là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể của sản phẩm.
Trong cùng 9 một lúc, vốn lƣu động của doanh nghiệp đƣợc phổ biến khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dƣới nhiều hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất đƣợc liên tục, doanh nghiệp phải có đủ lƣợng vốn lƣu động đầu tƣ vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái có đƣợc mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Nhƣ vậy, sẽ khiến cho chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển đƣợc thuận lợi. Vốn lƣu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tƣ, cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.
Nhƣng mặt khác, vốn lƣu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lƣợng vật tƣ sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lƣu thông sản phẩm có hợp lý không? Bởi vậy, thông qua quá trình luân chuyển vốn lƣu động còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt nhƣ mua sắm, dự trữ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Vốn lƣu động là giá trị những tài sản lƣu động mà doanh nghiệp đã đầu tƣ vào quá trình sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng tiền ứng ra để mua sắm các tài sản lƣu động sản xuất và các tài sản lƣu động lƣu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục. Đặc điểm của vốn lưu động Phù hợp với các đặc điểm trên của tài sản lƣu động, vốn lƣu động của các doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: Dự trữ sản xuất, sản xuất và lƣu thông. Quá trình này đƣợc diễn ra liên tục và thƣờng xuyên lặp lại theo chu kỳ và đƣợc gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lƣu động.
Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lƣu động lại thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tƣ hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lƣu động hoàn thành một vòng chu chuyển.Vốn lƣu động có hai đặc điểm: 10 Thứ nhất, vốn lƣu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó. Giá trị của nó đƣợc chuyển dịch hết một lần vào giá trị sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đƣợc sản xuất ra để cấu thành nên giá trị sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Thứ hai, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lƣu động thƣờng xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyyển sang vốn vật tƣ hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ.
Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lƣu động hoàn thành một vòng chu chuyển. Vốn lƣu động đƣợc chuyển hoá qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu là tiền tệ sang hình thái vật tƣ, hàng hoá dự trữ. Khi vật tƣ dự trữ đƣợc đƣa vào sản xuất, chúng ta chế tạo thành các bán thành phẩm. Sau khi sản phẩm sản xuất ra đƣợc tiêu thụ, vốn lƣu động quay về hình thái tiền tệ ban đầu của nó.
Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không ngừng, cho nên vốn lƣu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lƣu động. Do có sự chu chuyển không ngừng nên vốn lƣu động thƣờng xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dƣới các hình thái khác nhau trong sản xuất và lƣu thông. Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp Để quản lý, sử dụng vốn lƣu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại vốn lƣu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Thông thƣờng có những cách phân loại sau đây: a) Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh Theo cách phân loại này, vốn lƣu động của doanh nghiệp có thể đƣợc phân thành 3 loại: - Vốn lƣu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
- Vốn lƣu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển. 11 - Vốn lƣu động trong khâu lƣu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý…); các khoản đầu tƣ ngắn hạn (đầu tƣ chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…); các khoản thế chấp, ký cƣợc, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…). Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lƣu động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lƣu hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.
b) Phân loại theo hình thái biểu hiện Theo cách phân loại này, vốn lƣu động có thể chia thành 2 loại: - Vốn vật tƣ, hàng hoá: Là các khoản vốn lƣu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể nhƣ nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm… - Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ nhƣ tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tƣ chứng khoán ngắn hạn… Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. c) Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn Theo cách này ngƣời ta chia vốn lƣu động thành 2 loại: - Vốn chủ sở hữu: Là số vốn lƣu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng nhƣ: Vốn đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc; vốn do chủ doanh nghiệp tƣ nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp… - Các khoản nợ: Là các khoản vốn lƣu động đƣợc hình thành từ vốn vay các ngân hàng thƣơng mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chƣa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ có 12 quyền sử dụng trong một thời gian nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lƣu động của doanh nghiệp đƣợc hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lƣu động hợp lý hơn, bảo đảm an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp. d) Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn Tài sản lƣu động sẽ đƣợc tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Trong đó, các khoản nợ tài trợ cơ bản cho nguồn vốn lƣu động của doanh nghiệp.
Còn nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tài trợ một phần cho nguồn vốn lƣu động của doanh nghiệp mà thôi. Bởi vì nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ cơ bản cho tài sản cố định. Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt.