CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM BẢO HIỂM TÍN DỤNG CÁ NHÂN 1.1 Những vấn đề cơ bản về sản phẩm Bảo hiểm Tín dụng cá nhân Hiện nay, xu hướng hợp tác giữa hoạt động kinh doanh bảo hiểm với ngân hàng đang được thể hiện rõ trên thị trường thế giới, nhiều tập đoàn bảo hiểm có ngân hàng thương mại và ngược lại, nhiều ngân hàng thương mại thành lập công ty bảo hiểm. Đây là xu hướng thể hiện sự hỗ trợ nhau, cùng kinh doanh và phát triển. Thuật ngữ Bancassurance chỉ việc ngân hàng và công ty bảo hiểm hợp tác với nhau để phát triển và phân phối một cách hiệu quả các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm thông qua việc cung cấp các sản phẩm cho cùng một cơ sở khách hàng. Một cách tổng quát, Bancassurance có thể được hiểu một cách giản đơn nhất là việc các ngân hàng tham gia cung cấp các sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng của mình.
Các mô hình kinh doanh Bancassurance Việt Nam đang áp dụng: Theo nghiên cứu năm 2009 của công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư, Việt Nam đang áp dụng 04 mô hình: Mô hình 1 - Mô hình giới thiệu: Nhân viên ngân hàng giới thiệu khách hàng cho nhân viên công ty bảo hiểm bán và hưởng hoa hồng giới thiệu. Mô hình này giúp doanh nghiệp Bảo Hiểm có thể tiếp xúc với nguồn khách hàng tiềm năng là khách hàng của Ngân hàng thay vì phải tự đi tìm kiếm khách hàng trên thị trường. Mô hình 2 - Đại lý bảo hiểm làm việc tại ngân hàng: một số ngân hàng chưa đầu tư hoặc dành nguồn lực cho việc kinh doanh bảo hiểm tín dụng nên doanh nghiệp Bảo hiểm sẽ cử các đại lý/Nhân viên bảo hiểm của mình đến ngân hàng để thực hiện bán bảo hiểm. Trong khi ngân hàng có xu hướng làm người giới thiệu khách hàng thì đại lý làm việc tại ngân hàng hoạt động như người thực sự thực hiện việc bán bảo hiểm.
Điều này đảm bảo việc chốt hợp đồng được diễn ra nhanh chóng và dễ dàng hơn. 3 4 Mô hình 3 - Mô hình bán hàng toàn thời gian: Nhân viên ngân hàng chính là người bán bảo hiểm cho các khoản tín dụng do mình giải ngân, các nhân viên ngân hàng được đào tạo để có khả năng bán và tư vấn bán bảo hiểm. Nhân viên kinh doanh được đào tạo đầy đủ về cả sản phẩm và kỹ năng mềm, và được cấp chứng chỉ bán bảo hiểm như đại lý chuyên nghiệp. Điều này giúp nhân viên ngân hàng tăng kỹ năng bán hàng và khả năng chốt hợp đồng cũng cao hơn do họ đã có sẵn mối quan hệ với khách hàng.
Đồng thời khách hàng sẽ có cảm giác được phục vụ “một cửa”. Mô hình 4 - Mô hình tích hợp: Nhân viên ngân hàng bán bảo hiểm với sự trợ giúp của nhân viên bảo hiểm. Mô hình này được coi là hiệu quả nhất và đảm bảo cho mức độ thâm nhập cao hơn và trải nghiệm khách hàng tốt nhất. Tại Việt Nam mô hình bán Bảo hiểm tín dụng thường được áp dụng là Ngân hàng làm đại lý cho công ty Bảo hiểm và áp dụng mô hình 3 - Mô hình bán hàng toàn thời gian và Mô hình 4- Mô hình tích hợp.
Hai mô hình này đảm bảo quy trình nhanh gọn và dịch vụ một cửa cho khách hàng 1.1 Khái niệm và đặc điểm sản phẩm Bảo hiểm Tín dụng Cá nhân: Khái niệm: Bảo hiểm tín dụng cá nhân là bảo hiểm cho các khoản vay của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại. Đây là loại hình bảo hiểm phi nhân thọ bảo đảm thanh toán khoản dư nợ vay theo Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và người được bảo hiểm trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm. Dư nợ vay là số tiền mà cá nhân vay vốn có trách nhiệm phải trả cho Ngân hàng, bao gồm số nợ gốc và các khoản lãi, phí phát sinh chưa thanh toán được xác định tại ngày phát sinh sự kiện bảo hiểm. Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan được ghi rõ trong Hợp đồng bảo hiểm mà Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm chi trả cho người thụ hưởng khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Đối với Bảo hiểm tín dụng cá nhân, sự kiện bảo hiểm là: Tử vong, thương 4 5 tật toàn bộ vĩnh viễn do tại nạn, ốm đau, bệnh tật, thai sản…và thuộc phạm vi bảo hiểm. Đặc điểm của sản phẩm: - Đối tượng được bảo hiểm là khách hàng vay tại các tổ chức tín dụng và đáp ứng đầy đủ các điều kiện yêu cầu về độ tuổi được bảo hiểm, tình trạng sức khoẻ… - Thời hạn bảo hiểm xác định, tối đa bằng thời gian của khoản vay - Phí bảo hiểm đóng một lần ngay khi ngân hàng cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, phí được xác định bằng tỷ lệ % trên số tiền bảo hiểm. Hoặc phí bảo hiểm được đóng định kỳ theo tháng/quý/năm, số tiền thay đổi theo dư nợ vay đầu kỳ. - Mức phí bảo hiểm thấp vì không phải lập quỹ tiết kiệm cho người được bảo hiểm như các loại bảo hiểm nhân thọ.
- Số tiền bảo hiểm là số tiền được Doanh nghiệp Bảo hiểm chấp thuận bảo hiểm. Số tiền này không vượt quá số tiền vay ban đầu được Ngân hàng cho bên mua bảo hiểm/người được bảo hiểm vay và là giới hạn trách nhiệm tối đa của Doanh nghiệp bảo hiểm. Số tiền này chỉ trả một lần khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. - Người được thụ hưởng là thể nhân hoặc pháp nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định trong Hợp đồng bảo hiểm là người được thanh toán tiền bảo hiểm trong trường hợp sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Người được thụ hưởng trong Bảo hiểm tín dụng cá nhân là Ngân hàng nơi bên mua bảo hiểm có khoản dư nợ vay. - Nghĩa vụ cung cấp thông tin, ngăn ngừa, hạn chế tổn thất: Bên mua bảo hiểm, Người được bảo hiểm, Ngân hàng có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và trung thực tất cả các thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện Hợp đồng bảo hiểm đồng thời chịu toàn bộ trách nhiệm về những thông tin đã cung cấp, bao gồm cả những triệu chứng bất thường về sức khỏe, tình trạng thương tật hay tiền sử bệnh lý của người được bảo hiểm trước ngày Doanh nghiệp Bảo hiểm chấp thuận bảo hiểm. Trên thực tế, các công ty bảo hiểm có thể yêu cầu khách hàng kiểm tra sức khỏe trước khi phát hành hợp đồng. Việc khám sức khỏe có chính xác hay 5 6 không còn tùy thuộc vào việc kê khai đầy đủ và trung thực về tình trạng sức khỏe của người được bảo hiểm.
Vì vậy, nguyên tắc tuyệt đối trung thực trong khai báo thông tin sức khỏe của người được bảo hiểm được đặt lên hàng đầu. Đây là cơ sở pháp lý để hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực. Khi xảy ra rủi ro, người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người thụ hưởng phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết có thể để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất, chấp hành chỉ định, chẩn đoán, điều trị của người hành nghề khám, chữa bệnh. Người yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm có nghĩa vụ thu thập và cung cấp cho doanh nghiệp Bảo hiểm các giấy tờ cần thiết và các thông tin có liên quan một cách trung thực, chính xác, kịp thời và đầy đủ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Bảo hiểm tiến hành kiểm tra, xác minh hậu quả rủi ro khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Các điểm loại trừ bảo hiểm: Theo điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Theo thống kê của người viết từ Website các ngân hàng/doanh nghiệp bảo hiểm đang triển khai Bảo hiểm tín dụng cá nhân, các điều khoản loại trừ bảo hiểm mà các doanh nghiệp bảo hiểm hiện đang áp dụng là: Doanh nghiệp Bảo hiểm không có trách nhiệm giải quyết quyền lợi bảo hiểm khi người được bảo hiểm bị chết hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn một cách trực tiếp hay gián tiếp do một trong các nguyên nhân sau: - Chiến tranh, các hành động thù địch hoặc mang tính chiến tranh, nội chiến, nổi loạn, bạo động hay bạo loạn dân sự. - Hành động khủng bố. - Động đất, núi lửa.
6 7 - Người được bảo hiểm tự tử hoặc tự gây thương tích hay cố ý đặt bản thân vào tình thế nguy hiểm (trừ khi với mục đích cứu người). - Người được bảo hiểm bị tử hình theo phán quyết của toà án hoặc tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp hoặc có hành động chống cự khi bị bắt hay vượt ngục. - Người được bảo hiểm vi phạm nghiêm trọng pháp luật, nội quy, quy định của chính quyền địa phương hoặc các tổ chức xã hội, vi phạm nghiêm trọng luật lệ an toàn giao thông. - Người được bảo hiểm bị ảnh hưởng của rượu, bia, ma túy hoặc các chất kích thích tương tự khác.
- Người được bảo hiểm tham gia các hoạt động hàng không (trừ khi với tư cách là hành khách), tham gia các cuộc diễn tập, huấn luyện quân sự, tham gia chiến đấu của các lực lượng vũ trang. - Do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp phát sinh từ hoặc là hậu quả của chất độc hóa học dioxin, SARS (hội chứng hô hấp cấp tính), HIV, AIDS hoặc bất kỳ hội chứng hay điều kiện nào tương tự cho dù chúng được đặt tên như thế nào.2 Các thành viên tham gia trong sản phẩm Bảo hiểm tín dụng cá nhân: Giới hạn của đề tài là nghiên cứu thực trạng triển khai sản phẩm tại các Ngân hàng thương mại với vai trò là Đại lý cho doanh nghiệp bảo hiểm, nên các thành viên tham gia bao gồm: Doanh nghiệp Bảo hiểm: Doanh nghiệp Bảo hiểm là pháp nhân ký kết hợp đồng bảo hiểm và cam kết chi trả số tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Ngân hàng: - Ngân hàng là pháp nhân cung cấp khoản vay cho bên mua bảo hiểm theo các điều kiện và điểu khoản của hợp đồng tín dụng. 7 8 - Ngân hàng đồng thời đóng vai trò đại lý cho công ty bảo hiểm.
Theo điều 85 mục 1 chương IV cuả Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Ngân hàng với tư cách là đại lý được Doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền thực hiện các hoạt động sau đây: Giới thiệu, chào bán bảo hiểm. Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm Thu phí bảo hiểm Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.