phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, có kết cấu bao gồm 3 chương: Phần I: Cơ sở xây dựng đề án “Phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bắc Hà Nội” Phần II: Thực trạng phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bắc Hà Nội Phần III: Đề xuất và kiến nghị phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bắc Hà Nội 6 PHẦN I: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI” 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm cơ bản Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Điều 4, Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017, doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Nguyên tắc xác định một doanh nghiệp thuộc quy mô nhỏ và vừa như sau: Doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây (i) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, (ii) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ. Cụ thể, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định tại Chương II, nghị định 80/2021/NĐ-CP như sau: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. - Doanh nghiệp nhỏ: Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định nêu trên.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc 7 tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định nêu trên. - Doanh nghiệp vừa: Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định nêu trên. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định nêu trên. Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTM Dựa trên khái niệm Cho vay theo Thông tư 12/2024/TT-NHNN và khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa nêu trên, khái niệm Cho vay khách hàng DNNVV của NHTM được định nghĩa như sau: Cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại là việc các ngân hàng thương mại chuyển giao hoặc cam kết chuyển giao một khoản tiền cho pháp nhân có quy mô được xác định là doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Pháp luật và theo quy định của mỗi ngân hàng, để phục vụ nhu cầu bổ sung nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư tài sản cố định hoặc các nhu cầu hợp pháp khác trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi.
Hiện nay, quy định về định danh khách hàng DNNVV của các NHTM tại Việt Nam là khác nhau. Thông thường, các NHTM hiện nay định danh khách hàng dựa trên quy mô doanh thu năm tài chính gần nhất. Ngoài ra, vốn điều lệ hoặc tổng vốn đầu tư của dự án cũng được các ngân hàng sử dụng làm tiêu chí định danh khách hàng DNNVV. Khái niệm phát triển cho vay khách hàng DNNVV của NHTM Hoạt động cho vay nói chung là hoạt động kinh doanh trọng tâm của các NHTM.
Đây là hoạt động kinh doanh mang lại nguồn thu chính (thu nhập từ lãi vay) cho các ngân hàng. Khách hàng vay vốn được phân loại theo tư cách pháp lý bao gồm KHDN (có tư cách pháp nhân) và khách hàng cá nhân. khách hàng DNNVV là một bộ phận thuộc nhóm KHDN. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa là một thành phần đông đảo trong nền kinh thế, chiếm tới hơn 90% số lượng doanh nghiệp đang hoạt 8 động trên toàn quốc.
Mặc dù có quy mô nhỏ và vừa nhưng với số lượng đông đảo, khách hàng DNNVV đã và đang có những đóng góp lớn và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ lên nền kinh tế. Do đó, nhóm khách hàng này hiện nay đang trở thành khách hàng mục tiêu trọng tâm của nhiều NHTM. Mục tiêu phát triển cho vay khách hàng DNNVV đang là mục tiêu chiến lược của các NHTM. Trên cơ sở khái niệm Khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại và Cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại, khái niệm Phát triển cho vay Khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại được đề xuất như sau: Phát triển cho vay Khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại là việc ngân hàng thương mại thực hiện các giải pháp nhằm gia tăng quy mô dư nợ cho vay và doanh số giải ngân, nâng cao chất lượng tín dụng và tăng cường hiệu quả của hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Các nội dung liên quan phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại 1. Các nội dung liên quan tới cho vay khách hàng DNNVV của NHTM Các hình thức Cho vay khách hàng DNNVV của NHTM Hiện nay, các NHTM ngày càng đa dạng hóa các hình thức cho vay khách hàng DNNVV, một số hình thức cho vay phổ biến như sau: - Cho vay từng lần: Là loại hình cho vay mà ngân hàng chỉ giải ngân một lần duy nhất với mỗi phương án vay vốn. Từng lần vay vốn sẽ cung cấp lại cho ngân hàng một bộ hồ sơ vay vốn theo mục đích giải ngân. Cho vay từng lần thường được áp dụng cho các mục đích đầu tư tài sản cố định của DNNVV như cho vay mua ô tô, máy móc thiết bị, văn phòng,… - Cho vay hạn mức: Là loại hình cho vay mà ngân hàng cấp sẵn một hạn mức cho khách hàng để rút vốn, có thể rút vồn nhiều lần.
Khách hàng căn cứ vào nhu cầu vốn của mình mà đề xuất ngân hàng thực hiện giải ngân trong hạn mức cho phép. Lãi suất sẽ tính theo số tiền mà khách hàng đã nhận nợ. Cho vay theo hạn mức thường được ps dụng cho mục đích bổ sung vốn lưu động, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh ngắn hạn của DNNVV. - Cho vay thấu chi: Là loại hình cho vay mà khách hàng được tiêu vượt số tiền đang có trên tài khoản thanh toán.
Theo đó, ngân hàng thương mại sẽ mở một tài khoản thanh toán cho khách hàng, khi khách hàng tiêu âm số tiền mà ngân hàng 9 và khách hàng thỏa thuận với nhau, khách hàng sẽ phải chịu lãi suất. Thường các khoản vay thấu chi sẽ là khoản vay ngắn hạn với mục đích bổ sung vốn lưu động. Ngoài các loại hình cho vay kể trên, còn rất nhiều loại hình cho vay khác như: cho vay nước ngoài, cho vay hợp vốn, cho vay đồng tài trợ,… Đối tượng vay vốn: Đối tượng vay vốn là các KHDN được xác định có quy mô nhỏ và vừa. Các NHTM hiện tại có tiêu chí xác định khách hàng DNNVV khác nhau.
Do đó, việc một KHDN có thuộc đối tượng vay vốn theo các chương trình cho vay khách hàng DNNVV của NHTM hay không phụ thuộc vào quy định về định danh khách hàng của từng NHTM. Theo quy định hiện hành của một số NHTM tại Việt Nam, các KHDN có doanh thu năm tài chính gần nhất lên tới 600 tỷ đồng được phân loại là khách hàng DNNVV và được tham gia các chương trình vay vốn của nhóm khách hàng này. Thời gian vay vốn Thời gian vay vốn là khoảng thời gian NHTM đồng ý cho khách hàng vay sử dụng số tiền gốc, được tính từ thời điểm giải ngân vốn vay đến khi thu hồi toàn bộ nợ gốc theo đúng lịch trả nợ của ngân hàng. Thời gian vay vốn của khách hàng DNNVV tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng vốn vay và nhu cầu của KHDN.
Các khoản vay phục vụ mục đích tài trợ vốn lưu động, các ngân hàng hiện nay cung cấp sản phẩm cho vay theo hạn mức với thời hạn hợp đồng không quá 01 năm, thời hạn từng khoản vay của hợp đồng cũng không quá 01 năm. Thông thường thời hạn từng khoản vay là 03 đến 04 tháng đối với doanh nghiệp thương mại, 04 đến 06 tháng đối với doanh nghiệp sản xuất và có thể lên đến 09 tháng đến 12 đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và nông lâm ngư nghiệp. Nếu khoản vay phục vụ mục đích đầu tư tài sản cố định, tùy vào loại tài sản cố định mà các ngân hàng xác định thời gian vay vốn tối đa. Đối với xe ô tô và máy móc thiết bị, thời gian cho vay đối đa thông thường là 07 năm.
Đối với bất động sản và các dự án đầu tư, thời gian cho vay lên đến 30 năm.