Chương 1: Giới thiệu. Trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trình bày tổng quan các lý thuyết về nông hộ và kinh tế học sản xuất, các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và trong nước về hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày nguồn dữ liệu nghiên cứu, phương pháp xử lý dữ liệu, Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Phân tích và so sánh hiệu quả kinh tế giữa các mô hình sản xuất nông nghiệp thực tế tại địa bàn nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung Chương 2 này tóm tắt các lý thuyết liên quan đến đề tài, các dữ liệu về mô hình sản xuất nông nghiệp của các nghiên cứu trước đó, từ đó làm cơ sở để đưa ra mô hình nghiên cứu cho đề tài.
LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT 2. Khái niệm Hộ: theo Liên hợp quốc: “Hộ là những người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”. Theo từ điển chuyên ngành kinh tế: “Hộ là tất cả những người trong cùng một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết thống và những người làm công”.
Nông hộ (hộ nông dân): Ellis (1988, p.19) định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Lê Đình Thắng (1993, trang 19): “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Đào Thế Tuấn (1997): “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. Nguyễn Sinh Cúc (2001, trang 6): “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.
Kinh tế nông hộ: là sự hoạt động sản xuất kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp của các thành viên trong gia đình cố gắng sao cho tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống gia đình và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội. Đa dạng hóa thu nhập: được định nghĩa như là quá trình mà trong đó nông hộ tạo ra được nhiều nguồn thu nhập (Minott và cộng sự, 2006). Là việc chuyển từ sản xuất các hàng hóa dư thừa sang những hàng hóa khác có lợi nhuận cao hơn (Chaplin, 2000). Hình thức đa dạng hóa thu nhập theo chiều ngang nghĩa là sản xuất đối tượng hàng hóa mới hoặc theo chiều dọc đi vào sản xuất chuyên sâu ở các khâu 6 thu mua, sơ chế, chế biến sản phẩm.
Trong sản xuất nông nghiệp, ở giai đoạn đầu của chuyển đổi đa dạng hóa là chuyển đổi các loại đối tượng cây trồng mới phá thế độc canh lâu nay sang đa dạng đối tượng cây trồng vật nuôi trên cùng đơn vị diện tích đất. Ở giai đoạn tiếp theo nông hộ có thể chuyển đổi sang sản xuất phi nông nghiệp thưc hiện các dịch vụ cung ứng nông nghiệp theo từng công đoạn của chuỗi sản xuất hàng hóa. Lý thuyết về yếu tố đầu vào trong sản xuất nông nghiệp Bài nghiên cứu phân tích các yếu tố quyết định sự đa dạng hóa thu nhập và sự chia sẻ các nguồn thu nhập trong tổng thu nhập của các hộ gia đình nông thôn ở Tây Nam Nigeria (Idwou và Adewunmi, 2011) cho thấy: quy mô hộ gia đình, tỷ lệ người phụ thuộc, nắm giữ đất đai bình quân đầu người, mức đầu tư bình quân đầu người, khoảng cách đến khu vực trung tâm và nơi ở là những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thu nhập của nông hộ. Trong đó, mức độ nắm giữ đất đai bình quân đầu người có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến mức độ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ.
Bài nghiên cứu điều tra các yếu tố quyết định sự đa dạng hóa thu nhập bằng cách sử dụng dữ liệu về các hộ nông dân từ hai nước Senegal và Kenya của Alobo Sarah cho thấy: các nông hộ có diện tích đất nông nghiệp lớn hơn, có các khu vực đất được tưới tiêu có nhiều khả năng cho sự đa dạng về thu nhập hơn. Theo Đinh Phi Hổ và Phạm Ngọc Dưỡng (2011) nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam bao gồm: quy mô vốn đầu tư, quy mô đất nông nghiệp, mô hình đa dạng hóa, trình độ cơ giới hóa, liên kết tiêu thụ sản phẩm và kiến thức nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất. Nguồn lực vật chất có thể kể ra: đất đai, vốn tài chính, lao động, giống cây, giống con, vật tư đầu vào, khoa học công nghệ (Odoemenem và Inakwu, 2011).
Nguồn lực phi vật chất như: kỹ năng, kiến thức khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm. Nguồn lực đất đai Đất đai giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, là nguồn lực vật chất đầu vào của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được. Độ phì nhiêu là thuộc tính quan trọng, là dấu hiệu chất lượng của đất, nó ảnh hưởng đến năng suất sản xuất nông nghiệp, hiệu quả sử dụng lao động (Vũ Đình Thắng, 2006). Nguồn lực vốn Theo Kay và Edwards (trích từ Đinh Phi Hổ, 2008) nguồn vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực vật chất khác (đất đai, đầu tư hệ thống thủy nông, máy móc, thiết bị nông cụ, vật tư đầu vào).
Bài nghiên cứu điều tra các yếu tố quyết định sự đa dạng hóa thu nhập bằng cách sử dụng dữ liệu về các hộ nông dân từ hai nước Senegal và Kenya của Alobo Sarah (trích từ Lê Thị Thanh Vân, 2015) cho thấy: khả năng tiếp cận nguồn vốn nông nghiệp có tác động tiêu cực đến mức độ đa dạng nguồn thu nhập, bởi vì tiếp cận vốn để đầu tư trang trại máy móc, động vật để làm đất là cần thiết để tăng sản lượng nông nghiệp, ngược lại tiếp cận nguồn vốn cho thị trường, khả năng vận chuyển và bán các sản phẩm nông nghiệp khác là yếu tố quyết định tích cực và quan trọng cho đa dạng thu nhập. Lê Xuân Đính (2008) cho rằng, bón phân sẽ nâng cao được năng suất, phẩm chất, giúp cây khỏe, cứng cây, chống đổ ngã giảm được thất thoát sau thu hoạch. Nghĩa là việc đầu tư chi phí vào vật tư đầu vào sẽ giúp gia tăng sản lượng thu hoạch. Nguồn lực lao động Theo Đinh Phi Hổ (2008), nguồn lực lao động nông nghiệp bao gồm toàn bộ những người tham gia vào sản xuất nông nghiệp.
Xét về số lượng lao động bao gồm những người hội đủ yếu tố thể chất, tâm lý trong độ tuổi lao động (từ 15-60 tuổi đối với nam và 15-55 tuổi đối với nữ) và một bộ phận người dân ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn có khả năng tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Xét về mặt chất lượng thể hiện khả năng hoàn thành công việc với kết quả đạt được trong một thời gian lao động nhất định. Nguồn lực khoa học công nghệ Tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ được áp dụng trong nông nghiệp là tập hợp nhưng công cụ, phương pháp dùng để tác động vào các nguồn lực nhằm nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp. Do đó, tiến bộ khoa học công nghệ được áp dụng thúc đẩy năng suất tăng nhanh, tăng về sản lượng tăng cả về chất lượng sản phẩm nông nghiệp đạt hiệu quả sẽ tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường (David Begg, 2005).
Các lý thuyết về hành vi nông hộ lựa chọn mô hình sản xuất Trong đó, hai hướng phân tích chính là: (1) dựa trên lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình, (2) dựa trên lý thuyết xã hội học về hành vi. Trong khi lý thuyết hàm sản xuất nông hộ dựa trên giả định hành động nhằm tối đa hóa hữu dụng, áp dụng phân tích hành vi trong trường hợp nghiên cứu động cơ kinh tế, thì lý thuyết xã hội học về hành vi lại dựa trên cảm nhận chủ quan của chủ nông hộ về hành vi lựa chọn. Lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình được phát triển bởi Becker (1965). Theo đó, hộ gia đình sử dụng hàng hóa vật tư đầu vào, tiêu tốn một khoảng thời gian (mùa vụ sản xuất) để tạo ra hàng hóa.
Những hàng hóa này được sản xuất ra có mức hữu dụng tối đa hóa max U (X,T) của hộ gia đình. Các nghiên cứu về sự tham gia của nông hộ vào việc lựa chọn mô hình sản xuất nông nghiệp dựa trên lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình thường tập trung vào sự đánh đổi giữa chi phí đầu tư ưu tiên trong thời gian cố định và lợi ích của việc đầu tư tài chính có mức phí thấp/cao hơn, tiền thu được nhiều/ít hơn. Hộ gia đình sẽ phân tích tỷ lệ lợi nhuận/chi phí nói trên, từ đó đưa ra quyết định lựa chọn mô hình cho phù hợp. Do đó, sự tham gia của nông hộ vào việc lựa chọn mô hình sản xuất được đo lường bằng cách thay đổi các yếu tố về đặc điểm kinh tế, xã hội của hộ gia đình ảnh hưởng đến giảm chi phí.
Mối quan hệ giữa giá trị đầu ra và các yếu tố đầu vào Hàm sản xuất Y=f (Xi), trong đó Y là đầu ra của mô hình sản xuất nông nghiệp được tính bằng giá trị lợi nhuận (triệu đồng), Xi là các yếu tố đầu vào của sản xuất, f là dạng hàm. Để ước lượng giá trị đầu ra người ta phải đo lường các giá trị đầu vào tương ứng.