chương 1 và chương 2) là 2760, còn N = 57339 lượt từ. Trong số này có L = 6102 từ khác nhau. Như đã chỉ ra ở mục 1.1, ở chương này luận văn tập trung xét độ phân bố và độ phong phú của từ vựng ở các phần sau nay. Độ phân bố của các từ thuộc vùng tần số cao và thấp Theo Từ điển tần số thơ Tố Hữu (phụ lục 10), chúng tôi tạm chia từ vựng trong thơ Tố Hữu thành hai vùng tần số để tiện xem xét độ phân bố (độ phủ văn bản) của chúng: vùng tần số cao (là những từ có tần số lớn hơn 11) và vùng tần số thấp (là những từ có tần số nhỏ hơn 11).
Độ phân bố của các từ thuộc vùng tần số cao Luận văn xét độ phân bố của từ vựng có tần số cao là nhằm chỉ ra một cách cụ thể mức độ sử dụng rộng rãi (tính phổ biến) của chúng, bằng cách lập bảng gồm 8 vùng tần số. Trong mỗi vùng, chúng tôi tính 7 chỉ số (ở 7 cột) với các ý nghĩa cụ thể như sau (lấy vùng tần số 500 -> 587 trong bảng 1.2 để minh họa): Cột (1): Vùng tần số: Trong vùng này, tần số thấp nhất là là 500 và tần số cao nhất là 587. Cột (2): Số lượng từ khác nhau: Trong vùng này có Li = 2 từ khác nhau. 17 Cột (3): Toàn tập thơ Tố Hữu có L = 6102 từ khác nhau, vậy số lượng các từ khác nhau trong vùng này chiếm một tỉ lệ là: 퐿푖 2 × 100 = × 100 = 0,03% 퐿 6102 - Cột (4): Tổng số từ khác nhau ở các vùng trước đó và vùng này gộp lại đã chiếm một tỉ lệ: 0,02% 4- 0,03% = 0,05%.
- Cột (5): Tổng số lượt từ đã dùng trong vùng này, kí hiệu bằng Li x fi, ta được: Li x fi = 1087. - Cột (6): Ta có N = 57339, vậy tổng tần số ở vùng này đã phủ bao nhiêu phần trăm văn bản? 퐿푖 × 푓푖 1087 %= × 100 = 1,90% 푁 57339 Cột (7): Cho tới vùng này, tổng tần số của các từ của tất cả các vùng đã phủ bao nhiêu phần trăm văn bản: 1,43% + 1,90% = 3,33%. Điều này cho người viết biết rằng 3 từ hay dùng nhất trong toàn bộ sáng tác của Tố Hữu (đó là các từ ta, một, những) đã chiếm tới 3,33% văn bản. Các kết quả thống kê chi tiết được trình bày trong bảng 1.
Độ phân bố của từ thuộc vùng tần số cao trong thơ Tố Hữu Vùng tần số Số lượng Tỉ lệ phần trăm Tổng tần Tỉ lệ phần trăm fi từ khác số Li x fi 퐿푖 Tổng số từ Độ phủ văn bản Độ phủ văn nhau Li Số từ 퐿 (%) ∑ 퐿푖 (%) 퐿푖×푓푖 (%) bản tổng cộng 퐿 푁 ∑ 퐿푖×푓푖 푁 (%) (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) 821 1 0,02% 0,02% 821 1,43% 1,43% 500587 3 2 0,03% 0,05% 1087 1,90% 3,33% 3 Vùng tần số này được dùng để minh họa cho phần xét độ phân bố từ vựng ở vùng tần số cao. 18 410457 5 0,08% 0,013% 1771 3,09% 6,42% 306392 10 0,16% 0,29% 3430 5,98% 12,40% 205296 22 0,36% 0,66% 5526 9,64% 38,98% 100199 68 1,11% 1,77% 9715 16,94% 38,98% 5099 125 2,05% 3,82% 8132 14,18% 53,16% 1149 662 10,85% 14,66% 14544 25,36% 78,53% (Xin xem Từ điển tần số thơ Tố Hữu - Phụ lục 10 để biết danh sách các từ thuộc 8 vùng tần số cao này) Như vậy số từ có tần số từ 11 đến 821 phủ 78,53% văn bản và tổng số từ khác nhau chiếm tỉ lệ 14,66%. số từ còn lại thuộc vùng tần số thấp. Luận văn tiếp tục xét từ thuộc vùng tần số thấp ở phần sau đây.
Độ phân bố của các từ thuộc vùng tần số thấp Thực hiện sự tính toán tương tự cho các từ có tần số thấp nhất, từ 10 trở xuống, luận văn có bảng 1. Độ phân bố của từ thuộc vùng tần số thấp trong thơ Tố Hữu Vùng tần số Số lượng Tỉ lệ phần trăm Tổng tần Tỉ lệ phần trăm fi từ khác số Li x fi 퐿푖 Tổng số từ Độ phủ văn bản Độ phủ văn nhau Li Số từ 퐿 (%) ∑ 퐿푖 (%) 퐿푖×푓푖 (%) bản tổng cộng 퐿 푁 ∑ 퐿푖×푓푖 (%) 푁 (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) 1 2772 45,42% 45,42% 2772 4,83% 4,83% 2 923 15,12% 60,54% 1846 3,22% 8,05% 4 284 4,65% 73,41% 1136 1,98% 12,66% 5 184 3,01% 76,42% 920 1,60% 14,26% 6 171 2,80% 79,22% 1026 1,79% 16,05% 7 135 2,21% 81,44% 945 1,65% 17,70% 8 100 1,64% 83,07% 800 1,40% 19,09% 9 85 1,39% 84,47% 765 1,33% 20,43% 19 10 60 0,98% 85,45% 600 1,05% 21,47% (Xin xem Từ điển tần số thơ Tố Hữu - Phụ lục 10 để biết danh sách của các từ thuộc vùng tần số thấp này) Như vậy số từ có tần số từ 1 đến 10 phủ 21,47% văn bản và tổng số từ khác nhau thì chiếm tỉ lệ đến 85,45% văn bản. Tính đối nghịch giữa tỉ lệ phần trăm tổng số từ khác nhau với tỉ lệ phần trăm độ phủ văn bản tổng cộng của từ có tần số cao và từ có tần số thấp có thể nhìn rõ hơn ở bảng 1. Độ phân bố (độ phủ văn bản) từ có tần số cao và từ có tần số thấp trong thơ Tố Hữu Vùng tần số fi Tỉ lệ phần trăm tổng số từ khác Tỉ lệ phần trăm độ phủ văn nhau ∑ 퐿푖(%) ∑ 퐿 bản tổng cộng 퐿푖×푓푖 푁 (%) CAO (11821) 14,65% 78,53% THẤP (110) 85,45% 21,47% Như vậy, xét trong sự đối lập với từ thuộc vùng tần số cao, từ thuộc vùng tần số thấp chiếm 85,45%, tương đương với 5215 từ khác nhau, nhiều gấp 5,88 lần số từ thuộc vùng tần số cao.
Hay nói cách khác, số từ xuất hiện từ 11 lần trở lên chỉ chiếm gần một phần sáu tổng số từ khác nhau, tương đương 887 từ khác nhau. Đây chính là số liệu chứng minh cho độ phong phú từ vựng của thơ Tố Hữu mà luận văn sẽ xem xét cụ thể dưới đây. Nội dung ý nghĩa của một số từ có độ phân bố cao Kết quả thống kê độ phân bố của từ có tần số cao ở mục 1.1 đã giúp ta dễ nhận ra những từ có tần số cao đặc biệt. Chúng tôi thấy có 22 từ xuất hiện hơn 200 lần, 10 từ xuất hiện hơn 300 lần, 4 từ xuất hiện hơn 400 lần, 3 từ xuất hiện trên 500 lần và từ ta xuất hiện đến 821 lần, cụ thể như bảng 1.6: Bảng từ có tần số xuất hiện trên 200 lần (1) (2) (3) (4) (1) (2) (3) (4) ta 821 1 1,43% 20 một 587 2 1,02% em 296 18 0,52% những 500 3 0,87% ơi 294 19 0,51% như 457 4 0,80% của 288 20 0,50% không 455 5 0,79% trong 286 21 0,50% đi 449 6 0,78% ai 279 22 0,49% anh 410 7 0,72% tiếng 272 23 0,47% người 392 8 0,68% còn 271 24 0,47% lại 376 9 0,66% trên 270 25 0,47% đã 372 10 0,65% và 269 26 0,47% lên 357 11 0,62% về 264 27 0,46% con 344 12 0,60% mà 256 28 0,45% tôi 333 13 0,58% đời 253 29 0,44% là 326 14 0,57% vui 236 30 0,41% có 313 15 0,55% đến 232 31 0,40% lòng 311 16 0,54% nhớ 229 32 0,40% cho 306 17 0,53% đường* 226 33 0,39% vẫn 224 34 0,39% ngày 224 34 0,39% nghe* 222 35 0,39% năm 215 36 0,37% đâu 215 36 0,37% đây 205 37 0,36% Chú thích: (1) Từ, (2) Tần số, (3) Bậc, (4) Độ phủ văn bản Xét bảng thống kê trên đây, nếu trừ những hư từ và những từ tuy không thật là "hư" nhưng mang giá trị như là những yếu tố "đưa đẩy" thì còn lại là những thực từ, với hầu hết là từ đơn: ta, tôi, anh, em, người, ai, con, đi, nhớ, đời,.
Đặc biệt, từ ta xuất hiện đến 809 lần và từ tôi xuất hiện 333 lần. Ta đây là dân tộc, là nhân dân, là mỗi người Việt Nam, là bản thân nhà thơ và mang lại cho thơ ông một màu sắc tình cảm đặc biệt thấm thìa: Ta đi giữa ban ngày / Trên đường cái ung dung ta bước (Ta đi tới). Trần Đình sử cũng có nhận xét về cách dùng từ ta của nhà thơ Tố Hữu: Hầu hết thơ Tố Hữu đều bắt đầu từ một chữ "Tôi" ("ta", "chúng ta"). Đó là một thế giới, một tiếng nói trước thế giới.
Thiếu đại từ này, nhà thơ dường như chỉ trữ tình bằng mắt, bằng ý, bằng tâm, mà miệng thì câm lặng. Thiếu đại từ này thì nhà thơ hòa tan vào thế giới xung 21 quanh, làm lu mờ bản ngã. Cái tôi trong thơ Tố Hữu khơi một nguồn năng lượng mới trong thơ ca cách mạng của ta. Đó là yếu tố thứ nhất tạo nên tiếng nói quyền uy cách mạng của nhà thơ Tố Hữu [20, 238].
Cái "tôi" mà Tố Hữu nói lên trong mấy bài Giữa thành phố trụi, Lên Tây Bắc, Bắn,. không bao giờ là một cá nhân tự quay vào mình, tự đóng cửa tâm hồn để soi gương, mà trái lại đó là một tâm hồn đang muốn suy nghĩ, ca hát, căm giận cùng với những cảnh, những người của kháng chiến. Với từ anh, tác giả dùng để tự xưng với các em nhỏ, với người yêu. Tác giả cũng dùng từ này để gọi Bác Hồ là Anh hay gọi anh Lưu, anh Diểu, anh Phạm Hồng Thái, anh Vãn Thiên Tường, anh Nguyễn Văn Trỗi, anh No- man,.
Đặc biệt tác giả đã dùng một số lượng lớn từ anh để gọi người thợ, người dân quê, người Thượng, người bạn tù, đồng bào, anh nông dân, anh vệ quốc quân, anh chiến lũy, anh bộ đội, anh pháo binh, anh xung kích, anh dân công, anh công nhân, anh giải phóng quân, anh xã đội, anh thương binh, anh họa sĩ. Tố Hữu còn gọi nước Nga và thành Rôm là anh và gọi bạn bè quốc tế cũng là anh. Một bộ phận hợp thành trong cảm hứng chủ đạo của cái làm nên bức tranh từ vựng muôn màu của nhà thơ Tố Hữu là sự có mặt của ba từ vựng có tần số cao đặc biệt: ta, tôi và anh. Nhà thơ không chỉ trữ tình bằng ý, bằng tâm hồn mà còn trữ tình bằng chính lời xưng gọi của mình.
Những lời xưng gọi ấy chính là dân tộc, là nhân dân, là mỗi người Việt và là bản thân Tố Hữu. Ông không tự quay vào mình, không đóng tâm hồn mình nhưng không phải để hòa tan vào xung quanh, để làm lu mờ bản ngã, như cái tôi đã hòa vào cái ta của dân tộc, làm nên tiếng nói quyền uy cách mạng của ông.