Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thực trạng suy thoái rừng tự nhiên cùng nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác phòng hộ môi trường và phục hồi hệ sinh thái rừng tại Việt Nam. Trong các chương trình trồng rừng hiện nay, xu hướng bổ sung cơ cấu cây trồng bằng các loài cây gỗ lớn bản địa có giá trị kinh tế và sinh thái cao đang được chú trọng nhằm thay thế dần các loài cây ngoại lai sinh trưởng nhanh nhưng chu kỳ ngắn và chất lượng gỗ hạn chế.
Cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinense (Gagnep.) Chang & Miau, thuộc họ Đay - Tiliaceae) là loài cây gỗ lớn quý hiếm bản địa, phân bố chủ yếu trên các sinh cảnh núi đá vôi hiểm trở tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Sơn La, Tuyên Quang, Hà Giang. Gỗ Nghiến gân ba có tỷ trọng lớn, giác lõi phân biệt, cứng, thớ thẳng, vân đẹp, thường được khai thác làm vật liệu xây dựng, đóng đồ gia dụng cao cấp, làm thớt xuất khẩu và cành nhánh dùng sản xuất than trắng Binchotan. Đặc tính sinh thái của loài là sinh trưởng rất chậm, tái sinh tự nhiên kém; để hình thành các cá thể cổ thụ phải mất hàng trăm đến hàng nghìn năm. Do tình trạng khai thác trái phép diễn ra nghiêm trọng (đặc biệt là việc chặt hạ, đốt gốc để lấy thân xẻ thớt tiêu thụ qua biên giới, gián tiếp hủy diệt toàn bộ tầng cây con tái sinh quanh gốc), diện tích rừng Nghiến gân ba đã bị suy giảm nghiêm trọng với hơn 70% số cá thể trưởng thành ngoài tự nhiên bị chặt phá. Loài này hiện được xếp ở mức nguy cấp theo phân hạng EN A1a - d+2c,d trong danh mục thực vật rừng cần bảo vệ.
Tại tỉnh Thái Nguyên, Nghiến gân ba chỉ còn phân bố rải rác ở một số khu rừng đặc dụng và vùng núi đá vôi thuộc các huyện Võ Nhai, Định Hóa, Đồng Hỷ, Phú Lương. Mặc dù UBND tỉnh Thái Nguyên đã đưa Nghiến gân ba vào danh mục 4 loài cây lâm nghiệp cần bảo tồn nguồn gen giai đoạn 2014–2020, song các nghiên cứu chuyên sâu về nhân giống sinh dưỡng vô tính loài này tại địa phương vẫn còn rất hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên, đề tài "Nghiên cứu khả năng nhân giống bằng phương pháp giâm hom loài cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên" được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:
- Xác định được mức độ ảnh hưởng của giá thể và ảnh hưởng của loại hom đến quá trình nhân giống bằng phương pháp giâm hom cây Nghiến gân ba.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nhân giống cây Nghiến gân ba đạt chất lượng cao.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom cành loài cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis).
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn ươm thực nghiệm thuộc Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên (xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 4 năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên các cơ sở lý luận, khung pháp lý và phân loại học thực vật gồm:
- Khái niệm về bảo tồn tài nguyên di truyền theo định nghĩa của IUCN, WWF, FAO, UNESCO (1980), các phương thức bảo tồn nguyên vị (in situ) theo Richard B. Primack (1999) và bảo tồn chuyển vị (ex situ) thông qua lưu giữ giống sống, hạt giống, mô tế bào và hom cây.
- Vị trí phân loại thực vật: Giới Thực vật (Plantae), Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), Nhóm Cây gỗ lớn, Bộ Bông (Malvales), Họ Đay (Tiliaceae), Chi Nghiến (Excentrodendron), Loài Excentrodendron tonkinense (Gagnep.) Chang & Miau. Tên đồng nghĩa gồm Pentace tonkinensis, Parapentace tonkinensis, Burretiodendron tonkinensis, Burretiodendron hsienmu.
- Khung văn bản quy phạm pháp luật và chính sách: Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Nghị định số 65/2010/NĐ-CP; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; Quyết định ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 2150/QĐ-UBND ngày 18/10/2013 của UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt Đề án khung nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen cấp tỉnh giai đoạn 2014–2020.
- Lý luận nhân giống sinh dưỡng bằng phương pháp giâm hom: Nguyên lý giữ nguyên đặc tính di truyền của cây mẹ, rút ngắn thời gian thành thục sinh sản; các yếu tố kỹ thuật kiểm soát gồm sinh lý cành hom, cấu trúc giá thể giâm, chế độ che sáng 50%, duy trì độ ẩm không khí luống giâm trên 90% bằng vòm che nilon trắng và hệ thống phun sương.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo tiêu chuẩn ngành 04-TCN-147-2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
- Nguồn vật liệu hom: Lấy từ cây mẹ Nghiến gân ba tại Vườn giống gốc của Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp (kế thừa kết quả chọn cây mẹ cấp bộ của TS. Vũ Văn Thông). Chọn cành chồi vượt mập, mọc thẳng đứng, không sâu bệnh, cắt vào buổi sáng và ngâm ngay vào nước râm mát.
- Kỹ thuật cắt và xử lý hom: Đoạn hom dài 10–15 cm, giữ lại ít nhất 2 lá hoặc 2 chồi ngủ, gốc hom cắt vát góc 45°. Hom được ngâm khử trùng bằng dung dịch Benlat nồng độ 0,15% trong 15 phút, sau đó xử lý phần gốc bằng chất điều hòa sinh trưởng trong 15 phút trước khi cắm sâu 2–3 cm vào giá thể đã tưới ẩm.
- Thiết kế bố trí thí nghiệm: Bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 3 lần lặp lại:
- Thí nghiệm 1 (Ảnh hưởng của loại hom): Gồm 3 công thức (Hom non, Hom bánh tẻ, Hom già), mỗi công thức 30 hom/lần lặp, 3 lần lặp (tổng số 270 hom).
- Thí nghiệm 2 (Ảnh hưởng của giá thể): Sử dụng hom bánh tẻ, khảo sát 6 công thức giá thể với 30 hom/lần lặp, 3 lần lặp (tổng số 540 hom):
- Công thức 1 (CT1): 70% đất tầng A + 30% xơ dừa.
- Công thức 2 (CT2): 50% đất tầng A + 50% xơ dừa.
- Công thức 3 (CT3): 70% đất tầng A + 30% cát sông.
- Công thức 4 (CT4): 50% đất tầng A + 50% cát sông.
- Công thức 5 (CT5): 100% đất tầng A.
- Công thức 6 (CT6): 100% cát sông.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Số liệu được theo dõi định kỳ 15 ngày/lần tại các mốc thời gian 30, 60 và 90 ngày sau khi giâm. Các chỉ tiêu đo đếm gồm: Tỷ lệ hom sống (%), Tỷ lệ hom ra rễ (%), Số rễ trung bình/hom (cái), Chiều dài rễ trung bình/hom (cm), và Chỉ số ra rễ ($I_r = \text{Số rễ trung bình/hom} \times \text{Chiều dài rễ trung bình/hom}$). Số liệu được tính toán và phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA) trên phần mềm Microsoft Excel, đánh giá sai khác thống kê bằng tiêu chuẩn Student ($t$-test).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương này trình bày tổng quan lý luận về bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật rừng, phân tích hai phương thức bảo tồn nguyên vị (in situ) và bảo tồn chuyển vị (ex situ). Tổng quan tài liệu quốc tế điểm qua các thành tựu nhân giống vô tính họ Sao dầu tại Malaysia (Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia), Indonesia (Trung tâm Wanariset với phương pháp tắm bong bóng đạt tỷ lệ ra rễ 90–100%), cũng như các chương trình giâm hom quy mô công nghiệp cây lá kim (Pinus radiata, Picea abies) và Bạch đàn tại Pháp, Úc, New Zealand, Canada và Nhật Bản.
Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp hệ thống chính sách bảo tồn nguồn gen từ năm 1987 đến nay, các công trình của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam tại Phú Thọ, Lâm Đồng, Đắk Nông và các nghiên cứu bảo tồn loài cây bản địa của các tác giả trong nước. Đối với cây Nghiến gân ba, chương 1 hệ thống hóa đặc điểm phân loại học, vùng phân bố tự nhiên, đặc tính kỹ thuật gỗ và tình trạng suy giảm nghiêm trọng tại các huyện Võ Nhai, Định Hóa, Đồng Hỷ, Phú Lương thuộc tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, tác giả tổng quan các nghiên cứu cải tiến nhà giâm hom lâm nghiệp của Lê Xuân Phúc, Phạm Đình Mạnh, Cao Chí Công và giới thiệu năng lực nghiên cứu, quy mô vườn ươm 200 ha của Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu là loài Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis), địa điểm thực hiện tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp và khung thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2020 đến tháng 4/2021. Tác giả làm rõ phương pháp tiếp cận kế thừa tài liệu chọn giống của TS. Vũ Văn Thông và quy trình thực nghiệm giâm hom theo tiêu chuẩn 04-TCN-147-2006.
Nội dung chương trình bày chi tiết hai thí nghiệm nhân tố đơn gồm: thí nghiệm đánh giá 3 loại hom (hom non, hom bánh tẻ, hom già) với quy mô 270 hom và thí nghiệm đánh giá 6 công thức phối trộn giá thể (kết hợp đất tầng A, xơ dừa, cát sông) với quy mô 540 hom. Quy trình kỹ thuật thao tác bao gồm: kỹ thuật chọn chồi vượt bánh tẻ, cắt vát 45°, xử lý sát khuẩn bằng Benlat 0,15% trong 15 phút, xử lý chất điều hòa sinh trưởng trong 15 phút, cắm sâu 2–3 cm, che phủ nilon giữ ẩm >90%, che sáng 50% và phun sương định kỳ 2–4 lần/ngày. Toàn bộ phương pháp tính toán tỷ lệ sống, tỷ lệ ra rễ, số lượng rễ, chiều dài rễ, chỉ số ra rễ ($I_r$) và thuật toán phân tích phương sai ANOVA một nhân tố trên Excel cũng được quy định cụ thể.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận khoa học qua hai nội dung chính:
Thứ nhất, ảnh hưởng của loại hom đến khả năng nhân giống sau 90 ngày theo dõi:
- Hom bánh tẻ (CT2) cho kết quả sinh trưởng rễ vượt trội nhất trên tất cả các chỉ tiêu: tỷ lệ sống đạt 74,62%, tỷ lệ ra rễ đạt 75,21%, số rễ trung bình đạt 6,48 cái/hom, chiều dài rễ trung bình đạt 4,94 cm và chỉ số ra rễ ($I_r$) đạt 32,01.
- Hom già (CT3) đạt kết quả trung bình: tỷ lệ sống 42,00%, tỷ lệ ra rễ 41,05%, số rễ trung bình 4,39 cái/hom, chiều dài rễ trung bình 4,58 cm và chỉ số ra rễ 20,01.
- Hom non (CT1) cho kết quả thấp nhất: tỷ lệ sống chỉ đạt 6,44%, tỷ lệ ra rễ đạt 6,18%, số rễ trung bình 3,32 cái/hom, chiều dài rễ trung bình 2,13 cm và chỉ số ra rễ 7,07 (do hom non mô chưa thuần thục, dễ bị nấm bệnh và thối gốc). Phân tích ANOVA khẳng định sự sai khác giữa các loại hom có ý nghĩa thống kê rõ rệt.
Thứ hai, ảnh hưởng của giá thể đến khả năng nhân giống (thực hiện trên hom bánh tẻ) sau 90 ngày theo dõi:
- Công thức 1 (70% Đất tầng A + 30% Xơ dừa) đạt tỷ lệ sống cao nhất (85,31%) và tỷ lệ ra rễ cao nhất (83,91%), số rễ trung bình đạt 3,02 cái/hom, chiều dài rễ trung bình đạt 3,61 cm, chỉ số ra rễ đạt 10,90.
- Công thức 2 (50% Đất + 50% Xơ dừa) đạt tỷ lệ sống 68,73%, tỷ lệ ra rễ 67,55%, số rễ trung bình 2,38 cái/hom, chiều dài rễ trung bình 3,09 cm, chỉ số ra rễ 7,35.
- Công thức 3 (70% Đất + 30% Cát sông) đạt tỷ lệ sống 61,77%, tỷ lệ ra rễ 58,43%, số rễ trung bình 2,99 cái/hom, chiều dài rễ trung bình cao nhất trong các công thức (4,01 cm) và chỉ số ra rễ đạt 11,99.
- Công thức 5 (100% Đất tầng A) đạt tỷ lệ sống 59,79%, tỷ lệ ra rễ 59,86%, số rễ trung bình 2,01 cái/hom, chiều dài rễ trung bình 2,98 cm, chỉ số ra rễ 5,99.
- Công thức 4 (50% Đất + 50% Cát sông) đạt tỷ lệ sống 43,98%, tỷ lệ ra rễ 42,97%, số rễ trung bình 1,85 cái/hom, chiều dài rễ trung bình 3,54 cm, chỉ số ra rễ 6,55.
- Công thức 6 (100% Cát sông) cho hiệu quả kém nhất: tỷ lệ sống chỉ đạt 5,89%, tỷ lệ ra rễ 6,03%, số rễ trung bình 0,78 cái/hom, chiều dài rễ trung bình 0,12 cm và chỉ số ra rễ chỉ đạt 0,09.
Dựa trên các kết quả thực nghiệm, chương 3 đề xuất các biện pháp kỹ thuật lựa chọn cành hom bánh tẻ và phối trộn giá thể 70% đất + 30% xơ dừa nhằm tối ưu hóa chất lượng cây giống giâm hom.
Kết quả và đóng góp
Các số liệu thực nghiệm chính của khóa luận sau 90 ngày theo dõi được tổng hợp trong các bảng sau:
Bảng 1: Ảnh hưởng của loại hom đến kết quả giâm hom cây Nghiến gân ba (sau 90 ngày)
| Công thức |
Loại hom |
Số hom thí nghiệm |
Tỷ lệ sống (%) |
Tỷ lệ ra rễ (%) |
Số rễ TB/hom (cái) |
Chiều dài rễ TB/hom (cm) |
Chỉ số ra rễ ($I_r$) |
| CT1 |
Hom non |
90 |
6,44 |
6,18 |
3,32 |
2,13 |
7,07 |
| CT2 |
Hom bánh tẻ |
90 |
74,62 |
75,21 |
6,48 |
4,94 |
32,01 |
| CT3 |
Hom già |
90 |
42,00 |
41,05 |
4,39 |
4,58 |
20,01 |
Bảng 2: Ảnh hưởng của thành phần giá thể đến kết quả giâm hom bánh tẻ cây Nghiến gân ba (sau 90 ngày)
| Công thức |
Loại giá thể phối trộn |
Số hom thí nghiệm |
Tỷ lệ sống (%) |
Tỷ lệ ra rễ (%) |
Số rễ TB/hom (cái) |
Chiều dài rễ TB/hom (cm) |
Chỉ số ra rễ ($I_r$) |
| CT1 |
70% Đất tầng A + 30% Xơ dừa |
90 |
85,31 |
83,91 |
3,02 |
3,61 |
10,90 |
| CT2 |
50% Đất tầng A + 50% Xơ dừa |
90 |
68,73 |
67,55 |
2,38 |
3,09 |
7,35 |
| CT3 |
70% Đất tầng A + 30% Cát sông |
90 |
61,77 |
58,43 |
2,99 |
4,01 |
11,99 |
| CT4 |
50% Đất tầng A + 50% Cát sông |
90 |
43,98 |
42,97 |
1,85 |
3,54 |
6,55 |
| CT5 |
100% Đất tầng A |
90 |
59,79 |
59,86 |
2,01 |
2,98 |
5,99 |
| CT6 |
100% Cát sông |
90 |
5,89 |
6,03 |
0,78 |
0,12 |
0,09 |
Các giải pháp và kiến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất:
- Về lựa chọn hom giâm: Bắt buộc chọn hom bánh tẻ từ các cành chồi vượt sinh trưởng khỏe mạnh, vết cắt sắc gọn nghiêng góc 45°, giữ lại 2 lá hoặc 2 chồi ngủ để đảm bảo hoạt động quang hợp và tích lũy chất điều hòa sinh trưởng nội sinh.
- Về lựa chọn giá thể: Sử dụng hỗn hợp giá thể phối trộn gồm 70% đất tầng A kết hợp với 30% xơ dừa nhằm đảm bảo độ tơi xốp, giữ ẩm tốt và độ thoáng khí cho rễ phát triển. Tránh sử dụng cát sông thuần túy (100% cát sông) do khả năng giữ ẩm và dinh dưỡng kém, dẫn đến tỷ lệ chết của hom lên đến trên 94%.
- Về quy trình chăm sóc: Tuân thủ quy trình xử lý nấm bằng dung dịch Benlat 0,15% trong 15 phút, duy trì độ che sáng 50% và tưới phun sương 2–4 lần/ngày để giữ ẩm độ luống giâm trên 90% dưới vòm nilon trắng.
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp dẫn liệu khoa học thực nghiệm có hệ thống về khả năng nhân giống vô tính loài cây gỗ lớn Nghiến gân ba tại vùng trung du và miền núi phía Bắc.
- Xác định được thông số kỹ thuật tối ưu về loại hom (hom bánh tẻ) và thành phần cơ chất giá thể (70% đất tầng A + 30% xơ dừa), tạo cơ sở kỹ thuật hỗ trợ các nhà quản lý và các cơ sở sản xuất giống lâm nghiệp nhân rộng cây giống phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen ex situ và phát triển rừng gỗ lớn bản địa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu mới thực hiện trong điều kiện vườn ươm tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong khung thời gian 9 tháng (từ tháng 7/2020 đến tháng 4/2021).
- Nghiên cứu chưa đi sâu khảo sát ảnh hưởng của các loại chất điều hòa sinh trưởng khác nhau (như IBA, NAA) ở các dải nồng độ cụ thể và chưa khảo nghiệm biến động của các mùa vụ giâm hom khác nhau trong năm đối với cây Nghiến gân ba.
- Chưa có dữ liệu theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của cây con giâm hom ở giai đoạn sau khi ra ngôi bầu đất và trồng khảo nghiệm ngoài thực địa núi đá vôi.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo nghiệm ảnh hưởng của các loại chất kích thích ra rễ với các thang nồng độ và phương pháp xử lý khác nhau trên hom bánh tẻ Nghiến gân ba.
- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ giâm hom (vụ xuân, vụ hè, vụ thu, vụ đông) đến tỷ lệ ra rễ và chất lượng cây giống.
- Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao, đường kính cổ rễ và tỷ lệ sống của cây con sau khi đưa ra trồng khảo nghiệm tại các lập địa núi đá vôi tự nhiên.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho sinh viên, học viên cao học, giảng viên và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái và Bảo tồn Đa dạng Sinh học, Quản lý Tài nguyên Rừng, và Giống cây rừng.
Các nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng trực tiếp gồm:
- Quy trình kỹ thuật chọn lọc, thu hái cành chồi vượt, xử lý khử trùng nấm bệnh và giâm hom đối với loài cây gỗ bản địa thuộc nhóm khó ra rễ.
- Tỷ lệ phối trộn giá thể tối ưu (70% đất tầng A + 30% xơ dừa) ứng dụng trong các vườn ươm sản xuất cây giống lâm nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) và cách tính toán các chỉ tiêu hình thái rễ kết hợp xử lý thống kê bằng phân tích phương sai ANOVA một nhân tố trên Excel.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong 3 loại hom khảo nghiệm, loại hom nào cho hiệu quả nhân giống cây Nghiến gân ba cao nhất?
Hom bánh tẻ (CT2) cho hiệu quả cao nhất sau 90 ngày giâm, đạt tỷ lệ sống 74,62%, tỷ lệ ra rễ 75,21%, số rễ trung bình 6,48 cái/hom, chiều dài rễ trung bình 4,94 cm và chỉ số ra rễ ($I_r$) đạt 32,01; vượt trội hoàn toàn so với hom non (tỷ lệ sống 6,44%) và hom già (tỷ lệ sống 42,00%).
2. Công thức phối trộn giá thể nào cho tỷ lệ hom sống và ra rễ tối ưu nhất?
Công thức 1 (gồm 70% đất tầng A + 30% xơ dừa) cho kết quả tối ưu nhất với tỷ lệ sống đạt 85,31% và tỷ lệ ra rễ đạt 83,91% sau 90 ngày theo dõi. Ngược lại, công thức 100% cát sông cho kết quả thấp nhất với tỷ lệ sống chỉ 5,89% và tỷ lệ ra rễ 6,03%.
3. Quy trình xử lý khử trùng và chất kích thích cho hom Nghiến gân ba trong nghiên cứu được tiến hành như thế nào?
Hom sau khi cắt vát gốc 45° được ngâm ngay trong dung dịch sát khuẩn Benlat nồng độ 0,15% trong 15 phút để diệt trừ nấm bệnh, sau đó bó lại và nhúng phần gốc vào dung dịch chất điều hòa sinh trưởng trong 15 phút trước khi cắm vào giá thể với độ sâu 2–3 cm.
4. Nguồn vật liệu hom cây Nghiến gân ba được thu thập từ đâu và theo tiêu chuẩn nào?
Vật liệu hom được lấy từ cây mẹ Nghiến gân ba trồng tại Vườn giống gốc của Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp (kế thừa kết quả chọn cây mẹ cấp bộ của TS. Vũ Văn Thông). Tiêu chuẩn chọn hom là cành chồi vượt mập, mọc thẳng đứng, sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh và được cắt vào buổi sáng.
5. Vị trí phân loại học và tình trạng bảo tồn của loài cây Nghiến gân ba được xác định như thế nào trong khóa luận?
Cây Nghiến gân ba có tên khoa học là Excentrodendron tonkinense (Gagnep.) Chang & Miau, thuộc chi Excentrodendron, họ Đay (Tiliaceae), bộ Bông (Malvales), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Loài được xếp ở phân hạng nguy cấp EN A1a - d+2c,d trong Sách đỏ/Danh lục thực vật rừng Việt Nam với hơn 70% số cá thể trưởng thành ngoài tự nhiên đã bị suy giảm do khai thác trái phép.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Bảo Chung đã giải quyết thành công mục tiêu nghiên cứu thực nghiệm nhân giống vô tính loài cây gỗ lớn quý hiếm Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) bằng phương pháp giâm hom tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh hom bánh tẻ giâm trên giá thể phối trộn 70% đất tầng A kết hợp 30% xơ dừa cho tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ cao nhất (lần lượt đạt 85,31% và 83,91% sau 90 ngày), đồng thời phát triển hệ rễ đồng đều với các sai khác có ý nghĩa thống kê. Công trình cung cấp quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh và dẫn liệu thực nghiệm tin cậy, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn nguồn gen ex situ và định hướng nhân giống phục vụ trồng rừng gỗ bản địa tại Việt Nam.