Đặt vấn đề Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam. Hiện nay chăn nuôi đang là ngành giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp ở nước ta, song song với việc chăn nuôi gia súc là để lấy thịt, sữa, da, lông… thì chăn nuôi gia cầm cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc cung cấp những thực phẩm giàu dinh dưỡng, làm phong phú thêm thực đơn trong mỗi bữa ăn. Ngoài ra phát triển chăn nuôi gia cầm còn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho các trang trại, hộ gia đình, đồng thời giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở nông thôn và còn là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, chăn nuôi gà còn tạo nguồn phân bón hữu cơ, góp phần nâng cao năng suất cây trồng. Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình dịch bệnh xảy ra nhiều và diễn biến phức tạp.
Dù chăn nuôi theo phương thức nào thì dịch bệnh cũng là một trong những yếu tố gây thiệt hại nặng nề nhất, ảnh hưởng không nhỏ đến ngành chăn nuôi. Trong đó bệnh đầu đen ở gà là một trong những bệnh thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại lớn đến chăn nuôi gà. Đây là bệnh do ký sinh trùng gây nên. Bệnh đầu đen ở gà có tên khoa học là Histomoniasis, do một loại đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra chủ yếu trên gà thả vườn giai đoạn 3 – 14 tuần.
Bệnh gây nhiều thiệt hại, vì thường chẩn đoán sai hoặc nhầm sang bệnh cầu trùng, viêm ruột hoại tử… với tỷ lệ chết cao lên đến 80 – 90%. Gà cáy củm là một giống gà địa phương mới được phát hiện tại Cao Bằng, theo người dân địa phương thì đây là giống gà không có phao câu, thịt thơm ngon nhưng lại ít người biết đến. Hiện nay, giống gà này có mặt tai xã Đức Xuân, huyện Hòa An và một vài hộ ở xã Lưu Ngọc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng và đang được nuôi nghiên cứu ở Thái Nguyên. Gà cáy củm đang ngày càng giảm dần về số lượng, còn lại rất ít được nuôi rải rác tại một số hộ dân của người dân tộc H’mông ở vùng sâu, vùng xa, địa hình hẻo lánh.
Để chăm sóc tốt giống gà cáy củm, tăng số lượng giống gà này thì chúng ta cần biết về đặc tính sinh sản của giống gà này và quy trình phòng trị bệnh để đạt được hiệu quả chăn nuôi tốt nhất. n 2 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, nhằm bảo tồn nguồn gen, dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Thị Thơm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh đầu đen trên gà cáy củm tại Thái Nguyên". Mục đích nghiên cứu - Nghiêncứu tình hình mắc bệnh đầu đen gặp trên gà cáy củm tại Thái Nguyên.
- Đưa ra các biện pháp phòng trị bệnh đầu đen đạt hiệu quả cao cho gà Cáy củm. Mục tiêu nghiên cứu Phát hiện, chẩn đoán được bệnh đầu đen ở gà cáy củm và đưa ra phương pháp điều trị cho gà cáy củm tại trại chăn nuôi của chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty CP khai khoáng miền núi tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế.
Đồng thời cung cấp số liệu khoa học cho giảng dạy, chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung. - Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị góp phần vào việc hoàn thiện nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh đầu đen cho gà cáy củm. Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả của đề tài là cơ sở cho người chăn nuôi biết được một số triệu chứng của bệnh và quy trình phòng bệnh để áp dụng vào việc chăn nuôi và nhân giống để phát triển giống gà cáy củm quy mô đại trà, hạn chế thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi. - Đánh giá khả năng điều trị bệnh của loại thuốc và đưa ra những liệu trình điều trị hiệu quả, để áp dụng rộng rãi trên thực tiễn chăn nuôi.
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học. - Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi và củng cố, nâng cao kiến thức của bản thân. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 2. Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh. Căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs. (2010) [11] đã cho biết vị trí phân loại của H.meleagridis như sau: Giới: Protozoen Ngành: Parabasalia Lớp: Tritrichomonadea Bộ: Tritrichomonadid Họ: Dientamoebidae Giống: histomonas Loài: Histomonas meleagridis 2.
Hình thái học loài Histomonas meleagridis Histomonas meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi), hình amip và hình lưới. Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có hai nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4 cái roi. Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H. meleagridis, các nhà khoa học cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H.
meleagridis cấu tạo gồm 3 phần: màng, nguyên sinh chất và nhân. meleagridis là một màng đơn. Nguyên sinh chất của H. meleagridis chứa ß-glycogen, ribosome và ARN, một số không bào và hạt nhân.
Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleotid. Màng nhân là một màng kép. Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi. (1934) [25] đã báo cáo: khi quan sát dưới kính hiển vi, tácgiả thấy H.
meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi). Trong mô(giai đoạn xâm lấn), nó có dạng amip, trong lòng manh tràng H. meleagridis ởdạng có roi.meleagridis ở dạng amip thường có đường kính 8 - 15 µm, trong khi ở hình dạng có roi đường kính có thể lên tới 30 µm. Vòng đời của Histomons meleagridis Theo Lê Văn Năm và cs.
meleagridis sinh sản theo phương thức tự nhân đôi trong tế bào gan, manh tràng và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio). Khi ra khỏi ký chủ, thể hình roi và thể amip chỉ sống được trong vòng 24 giờ, với điều kiện khô ráo và nhiệt độ thấp giúp cho H. meleagridis tồn tại lâu trong môi trường tự nhiên ngoài cơ thể, khi đó chúng có thể tồn tại hàng năm trong các trứng của giun kim, do đó gà bị mắc bệnh khi ăn thức ăn, nước uống bị nhiễm trứng giun kim H. gallinarum có chứa thể hợp bào H.
meleagridis có thể nuôi cấy trong môi trường nhân tạo, yếm khí, chúng sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân). Con đường truyền lây H. meleagridis lây truyền bằng 2 con đường: truyền bệnh trực tiếp và truyền bệnh gián tiếp qua giun kim. • Truyền bệnh trực tiếp Theo quan điểm của Smith (1895) [24] cũng thí nghiệm cho gà tây khỏe ăn phân và các cơ quan bị tổn thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy gà tây khỏe cũng bị nhiễm bệnh.
(1907) [12] đã làm các thí nghiệm gây nhiễm H. meleagridis cho gà khỏe theo cách tương tự. Tuy nhiên, các tác giả đều kết luận, có thể gây nhiễm bệnh đầu đen ở gà và gà tây qua đường ăn, uống nhưng tỷ lệ nhiễm không cao (Smith, 1895) [24]. Hu và cs.
(2004) [16] tiến hành gây nhiễm H. meleagridis qua lỗ huyệt cho gà 2 tuần tuổi, liều 100. Theo dõi trong 12 ngày thấy không có gà nào bị chết, tiến hành mổ khám, thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng. Tỷ lệ tử vong bởi bệnh đầu đen ở gà lên đến 80% đã được báo cáo bởi Landman và cs (2004) [18] sau khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây ở 15 ngày tuổi với lượng 200.
n 5 Các kết quả trên cho thấy, có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe bằng 2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt. Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng. Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi bị nhiễm mầm bệnh. Ngay sau khi lỗ huyệt gà khỏe tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, H.
meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng. • Truyền bệnh qua giun kim. và cs (1894) [13] đã nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi chúng được nuôi trên khu vực trước đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh. Trong thí nghiệm đầu tiên, Curtice C.
(1907) [12] đã chứng minh rằng Histomonaskhông lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ, thông qua trứng, mặc dù phát hiện gà con sớm bị mắc Histomonosis và chết ở 12 - 14 ngày tuổi. Tác giả cho rằng, những gà con này đã bị nhiễm bệnh do được nuôi trong khu đất, nơi mà đàn gà nuôi trước đó đã bị mắc bệnh. Smith (1895) [24] đã tiến hành thí nghiệm với quy mô lớn và cho biết: H. meleagridis không lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ sang trứng, mặc dù phát hiện gà con mắc bệnh đầu đen rất sớm và chết ở 12 - 14 ngày tuổi.
Tác giả cho rằng, những gà con này bị nhiễm bệnh do được nuôi trong khu đất nơi mà đàn gà nuôi trước đó đã mắc bệnh. Thí nghiệm được bố trí như sau: Tiến hành lấy trứng ở những gà mẹ từ 3 trang trại khác nhau đang có bệnh đầu đen phát triển, ấp trứng nhân tạo. Trước khi ấp, trứng được rửa sạch, lau nhẹ nhàng bằng nước ấm, ngâm trong clorua thủy ngân 0,5 % trong 30 giây, sau đó rửa sạch và lau khô bằng khăn khử trùng. Sau khi nở 1 tuần 4 gà tây đã bị chết do quá yếu, những gà còn lại được nuôi tại khu vực được bảo vệ an toàn và không có sự lây nhiễm của mầm bệnh.
Sau 1 tháng theo dõi thấy gà khỏe bình thường. Thí nghiệm tiếp tục được tiến hành sau hơn 6 tuần quan sát thấy không có gà nào bị tử vong và xuất hiện dấu hiệu bệnh. Điều này khẳng định rằng Histomonas không lây truyền từ gà mẹ thông qua trứng. Tác giả tiếp tục tiến hành thí nghiệm bằng cách chuyển những gà thí nghiệm trên về các trang trại đang có gà bị nhiễm bệnh, sau 17 ngày thấy gà xuất hiện triệu chứng n 6 bệnh, đến ngày thứ 26 tất cả gà đều tử vong, mổ khám thấy tổn thương rõ rệt ở gan và đóng kén trắng ở manh tràng.
Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 2.