phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, bố cục đề tài bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh tại BIDV Đồng Nai. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của BIDV Đồng Nai trong định hƣớng phát triển giai đoạn 2016 – 2020. Quy trình nghiên cứu của đề tài: Lý thuyết phân tích hiệu Mô hình thẻ điểm cân bằng - quả kinh doanh BSC Kết quả HĐKD năm 2011 Cơ sở lý thuyết – 2015 tại BIDV Đồng Nai Thống kê phân tích tổng hợp Thực trạng hiệu quả HĐKD tại BIDV Đồng Nai Kế hoạch kinh doanh năm 2016 - 2020 Giải pháp nâng cao hiệu quả HĐKD 5 CHƢƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 1.
Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh và phân tích hiệu quả kinh doanh: 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, khoa học, công nghệ và vốn) nhằm đạt đƣợc các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra, với chi phí bỏ ra ít nhất nhƣng đạt đƣợc kết quả cao nhất. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là phản ánh mặt chất lƣợng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh: Kết quả của hoạt động phân tích hiệu quả kinh doanh giúp cho tổ chức có thể đánh giá trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực đã có so với mục tiêu đề ra.
Kinh doanh hiệu quả cũng giúp tổ chức có khả năng thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ, tạo cơ sở cho việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất. Sự khan hiếm các nguồn lực và môi trƣờng cạnh tranh gay gắt đòi hỏi tổ chức phải không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh để có thể tồn tại đƣợc. Khái niệm phân tích hiệu quả kinh doanh: Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của quản lý kinh doanh, căn cứ vào các tài liệu thống kê và các thông tin kinh tế khác, bằng những phƣơng pháp nghiên cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế nhằm làm rõ bản chất của hoạt động kinh doanh, nguồn tiềm năng cần đƣợc khai thác, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp (Phạm Văn Đƣợc, 2008). Sự cần thiết của việc phân tích hiệu quả kinh doanh: 6 Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và còn là công cụ để cải tiến quản lý trong kinh doanh.
Phân tích hoạt động và hiệu quả kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh doanh. Phân tích kinh doanh còn là biện pháp quan trọng để ngăn ngừa rủi ro trong kinh doanh, trên cơ sở kết quả phân tích, doanh nghiệp dự đoán các rủi ro trong kinh doanh có thể xảy ra và các phƣơng pháp phòng ngừa phù hợp trƣớc khi chúng xảy ra. Đối với một bộ phận các đối tƣợng bên ngoài là những ngƣời không trực tiếp điều hành nhƣng họ có mối quan hệ về quyền lợi với doanh nghiệp, thông qua tài liệu và kết quả phân tích giúp họ có những quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tƣ, hay cung cấp các mức hạn mức tín dụng… 1. Một số phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh: 1.
Phương pháp so sánh: Phƣơng pháp so sánh là phƣơng pháp đƣợc sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm để đánh giá chung, đánh giá khái quát tình hình biến động của các chỉ tiêu phân tích. Khi sử dụng phƣơng pháp so sánh trong phân tích kinh tế phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau: a. Xác định gốc so sánh: Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ đƣợc lựa chọn làm căn cứ để so sánh, đƣợc gọi là gốc so sánh. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà ta lựa chọn gốc so sánh cho thích hợp, các gốc so sánh có thể là: - Tài liệu năm trƣớc (kỳ trƣớc) nhằm đánh giá xu hƣớng phát triển của chỉ tiêu.
- Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự báo, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán, định mức. 7 - Các chỉ tiêu bình quân của ngành, khu vực kinh doanh, nhu cầu đơn đặt hàng nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Mục đích so sánh: - Qua so sánh đánh giá đƣợc kết quả của việc thực hiện các mục tiêu do đơn vị đặt ra. Muốn vậy cần phải so sánh giữa kết quả đạt đƣợc với mục tiêu đặt ra, giữa thực tế với kế hoạch.
- Qua so sánh biết đƣợc tốc độ, nhịp điệu phát triển của các hiện tƣợng và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc so sánh giữa kết quả kỳ này với kết quả kỳ trƣớc (kết quả năm sau với kết quả năm trƣớc). - Qua so sánh cho ta biết đƣợc mức độ tiên tiến hay lạc hậu của từng đơn vị trong quá trình thực hiện các mục tiêu do chính đơn vị đặt ra. Muốn vậy cần phải so sánh giữa kết quả của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác có cùng loại hình quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và so sánh giữa kết quả của từng đơn vị bộ phận với kết quả bình quân của tổng thể. Điều kiện có thể so sánh được: Để kết quả so sánh có ý nghĩa và chính xác thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu đem đi so sánh phải đồng nhất về mặt thời gian, không gian, nội dung kinh tế, phƣơng pháp tính toán và đơn vị tính.
Kỹ thuật so sánh: - So sánh số tuyệt đối: Là hiệu số giữa trị số kỳ phân tích và trị số kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế. Việc so sánh này cho thấy biến động về quy mô, khối lƣợng của chỉ tiêu phân tích. - So sánh số tƣơng đối: là thƣơng số giữa trị số kỳ phân tích và trị số kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế. Việc so sánh này biểu hiện kết cấu, mối quan hệ tốc độ phát triển… của chỉ tiêu phân tích.
- So sánh số bình quân: là số biểu hiện mức độ về mặt lƣợng của các đơn vị bằng cách sau: Bằng mọi chênh lệch trị số giữa các đơn vị đó, nhằm phản ánh khái quát đặc điểm của từng tổ, một bộ phận hay tổng thể các hiện tƣợng có cùng tính 8 chất. So sánh số bình quân ta sẽ đánh giá đƣợc tình hình chung, sự biến động về số lƣợng, chất lƣợng trong quá trình sản xuất kinh doanh, đánh giá xu hƣớng phát triển của doanh nghiệp. Phương pháp loại trừ: Là phƣơng pháp dùng để xác định mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách khi xác định mức độ ảnh hƣởng của nhân tố này thì loại trừ mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố khác. Phương pháp thay thế liên hoàn: là phƣơng pháp xác định mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố bằng số tƣơng đối và số tuyệt đối.
Phƣơng pháp này bao gồm một số nội dung và trình tự sau: - Xác định số lƣợng các nhân tố ảnh hƣởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định đƣợc công thức tính của chỉ tiêu phân tích. - Sắp xếp thứ tự các nhân tố từ trái sang phải, từ nhân tố số lƣợng sang nhân tố chất lƣợng; Trƣờng hợp có nhiều nhân tố số lƣợng (chất lƣợng) cùng ảnh hƣởng thì nhân tố chủ yếu xếp trƣớc, nhân tố thứ yếu xếp sau và không đƣợc đảo lộn trình tự. - Tiến hành lần lƣợt thay thế từng nhân tố một theo trình tự. Nhân tố nào đƣợc thay thế, nó sẽ giữ nguyên giá trị thực tế từ đó; còn các nhân tố chƣa đƣợc thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch.
Thay thế xong một nhân tố, phải tính ra cụ thể kết quả lần thay thế đó. - Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hƣởng của các nhân tố phải bằng với đối tƣợng phân tích. - Lần lƣợt thay thế nhân tố kế hoạch bằng nhân tố thực tế theo trình tự, mỗi lần thay thế tính ra đƣợc chỉ tiêu phân tích mới, rồi so sánh với chỉ tiêu phân tích đã tính ở bƣớc trƣớc. Ta sẽ xác định mức độ ảnh hƣởng của nhân tố vừa thay thế.
Phương pháp số chênh lệch: Phƣơng pháp số chênh lệch là một dạng đặc biệt của phƣơng pháp thay thế liên hoàn. Đƣợc dùng để phân tích mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích. Là dạng đặc biệt của phƣơng pháp thay thế liên hoàn nên phƣơng pháp số 9 chênh lệch vẫn tuân thủ theo nội dung và trình tự các bƣớc của phƣơng pháp thay thế liên hoàn, nhƣng khác ở chỗ là lấy chênh lệch của các nhân tố giữa 2 kỳ để xác định mức độ ảnh hƣởng. Một số phương pháp phân tích khác: a.
Phương pháp cân đối: Phƣơng pháp cân đối dựa trên cơ sở là sự cân bằng về lƣợng giữa hai mặt của các yếu tố với quá trình kinh doanh. Ví dụ nhƣ giữa tài sản với nguồn vốn hình thành; giữa các khoản phải thu và các khoản phải trả … Khác với phƣơng pháp thay thế liên hoàn và phƣơng pháp số chênh lệch, phƣơng pháp cân đối đƣợc sử dụng để tính mức độ ảnh hƣởng của từng nhân tố khi chúng có quan hệ tổng với chỉ tiêu phân tích. Để tính ảnh hƣởng của nhân tố nào đó chỉ việc tính chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch (kỳ gốc) của bản thân nhân tố đó mà không cần quan tâm đến các nhân tố khác b. Phương pháp phân tích cụ thể: Để đánh giá đƣợc phong phú, chính xác hơn các kết quả đạt đƣợc nhằm ghi rõ thực chất hiện tƣợng và quá trình kinh tế, ngƣời ta có thể chi tiết kết quả kinh doanh theo nhiều hƣớng khác nhau.
- Chi tiết theo các bộ phận (yếu tố) cấu thành chỉ tiêu. Với chi tiết này nhằm thấy rõ kết cấu của các chỉ tiêu và vai trò ảnh hƣởng của từng bộ phận đến chỉ tiêu.