CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM 1. Khái quát chung về doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp (DN) kinh doanh Bảo hiểm (KDBH) 1. Khái niệm và điều kiện ghi nhận doanh thu trong các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm 1. Khái niệm Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm là số tiền phải thu phát sinh trong kỳ sau khi đã trừ các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ: - Số tiền phải thu phát sinh trong kỳ bao gồm: Thu phí bảo hiểm gốc; Thu phí nhận tái bảo hiểm; Thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; Thu phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng bồi thường 100%; Thu phí giám định tổn thất không kể giám định hộ giữa các đơn vị thành viên hạch toán nội bộ trong cùng một doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán độc lập.
- Các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ bao gồm: Hoàn phí bảo hiểm; Giảm phí bảo hiểm; Phí nhượng tái bảo hiểm; Hoàn phí nhận tái bảo hiểm. Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, nguồn thu từ phí bảo hiểm chiếm vai trò quan trọng. Để tính phí bảo hiểm, người ta phải dựa vào rất nhiều yếu tố, một trong các yếu tố có tính nguyên tắc là: Các doanh nghiệp bảo hiểm cần thu hút được số lớn người mua bảo hiểm, nếu tập hợp được đủ lớn số lượng người mua bảo hiểm thì quy luật số lớn là đúng và những dự tính của công ty bảo hiểm về tỷ lệ rủi ro và khả năng chi trả cho người được bảo hiểm là chính xác. Trong trường hợp như vậy, công ty bảo hiểm sẽ cân bằng được số thu và số phải thanh toán.
Điều kiện ghi nhận doanh thu Theo quy định trong Thông tư 125/2012/TT-BTC, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hạch toán khoản thu phí bảo hiểm gốc vào doanh thu khi phát sinh trách nhiệm bảo hiểm đối với bên mua bảo hiểm, cụ thể như sau: 9 (i) Khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm hoặc có bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm. (ii) Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài có thoả thuận cho bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm. Ngoài ra: + Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thoả thuận với bên mua bảo hiểm việc đóng phí bảo hiểm theo kỳ thì sẽ hạch toán vào thu nhập tương ứng với kỳ hoặc các kỳ phí bảo hiểm đã phát sinh, không hạch toán vào thu nhập phần phí bảo hiểm chưa đến kỳ bên mua bảo hiểm phải nộp phí theo thoả thuận. + Trong mọi trường hợp, thời gian nợ phí bảo hiểm không được vượt quá thời hạn bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm.
+ Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm sẽ tự chấm dứt hiệu lực bảo hiểm vào ngày kế tiếp ngày bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. + Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài ghi giảm doanh thu tương ứng với thời gian hợp đồng bảo hiểm không phát sinh trách nhiệm bảo hiểm do bên mua bảo hiểm không thực hiện đóng phí bảo hiểm theo đúng thoả thuận nợ phí. + Đối với các hợp đồng bảo hiểm không có thoả thuận thời hạn đóng phí bảo hiểm hợp đồng bảo hiểm sẽ không phát sinh trách nhiệm bảo hiểm và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm không được hạch toán vào doanh thu. + Trường hợp hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán vào thu nhập tiền thu phí bảo hiểm gốc được phân bổ theo tỷ lệ hợp đồng bảo hiểm.
+ Doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán thu phí nhận tái bảo hiểm, thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và các khoản thu khác phát sinh từ hoạt động nhượng tái bảo hiểm khi bản thanh toán về tái bảo hiểm được xác nhận. Trường hợp doanh nghiệp 10 bảo hiểm thỏa thuận với bên nhượng tái bảo hiểm việc đóng phí bảo hiểm theo kỳ thì sẽ hạch toán vào thu nhập tương ứng với kỳ hoặc các kỳ phí nhận tái bảo hiểm đã phát sinh, không hạch toán vào thu nhập phần phí bảo hiểm chưa đến kỳ bên nhượng tái bảo hiểm phải thanh toán theo như đã thoả thuận. + Đối với các khoản thu còn lại: doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán vào thu nhập ngay khi hoạt động kinh tế phát sinh, có bằng chứng chấp thuận thanh toán của các bên, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. + Đối với các khoản phải chi để giảm thu: Doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán vào giảm thu nhập ngay khi hoạt động kinh tế phát sinh, có bằng chứng chấp thuận của các bên, không phân biệt đã chi tiền hay chưa chi tiền.
Phân loại doanh thu Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty kinh doanh bảo hiểm bao gồm: - Doanh thu phí bảo hiểm gốc: Tổng số tiền thu về phí bảo hiểm gốc từ các hợp đồng được ký kết với người được bảo hiểm trong kỳ báo cáo. - Doanh thu nhận tái bảo hiểm: Tổng số tiền thu về phí nhận tái bảo hiểm và thu khác từ công ty nhượng tái bảo hiểm. - Thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm: Khoản thu hoa hồng do công ty nhận tái bảo hiểm chuyển nhượng do đã khai thác hợp đồng giúp công ty nhận tái bảo hiểm và thu bồi thường. - Thu khác hoạt động kinh doanh bảo hiểm gồm: + Thu nhận tái bảo hiểm: phản ánh thu khác của hoạt động nhận tái bảo hiểm trong kỳ báo cáo + Thu nhượng tái bảo hiểm: phản ánh doanh thu khác của hoạt động nhượng tái bảo hiểm trong kỳ báo cáo + Thu khác: phản ánh doanh thu các hoạt động khác của bảo hiểm như: thu về giám định, đánh giá rủi ro, thu xét bồi thường, thu đòi người thứ 3, thu bán hàng hoá, thu hoa hồng làm đại lý, thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm, thu khác.
Khái niệm và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm 1. Khái niệm Hoạt động của DNKDBH bao gồm hoạt động kinh doanh bảo hiểm (bao gồm bảo hiểm gốc, nhận và nhượng tái bảo hiểm), hoạt động tài chính và hoạt động khác. Để tồn tại và phát triển, DNKDBH phải bỏ ra những khoản chi phí cho từng hoạt động, hình thành nên chi phí trong DNKDBH. Chi phí của DNKDBH là số tiền phải chi, phải trích phát sinh trong kỳ.
Chi phí của DNKDBH được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định theo năm (kỳ kế toán cơ bản) hoặc quý, tháng (kỳ kế toán tạm thời). Nó bao gồm tất cả các chi phí mà DNKDBH phải chi ra, phải trích lập để tồn tại và để hoạt động, bất kể đó là chi phí khách quan hay chủ quan (khoản thiệt hại về tài sản, khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng. Các khoản phải trích lập chủ yếu là dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Độ lớn của chi phí trong DNKDBH phụ thuộc vào 2 yếu tố chủ yếu là khối lượng dịch vụ bảo hiểm được giao kết và mức độ xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Cũng như trong các doanh nghiệp khác, để đảm bảo nguyên tắc "phù hợp", khái niệm chi phí của DNKDBH cần được xem xét trong mối quan hệ với doanh thu, thu nhập của DNKDBH. Phân loại chi phí Chi phí trong DNKDBH bao gồm nhiều loại, nhiều khoản mục khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế, chi phí của doanh nghiệp được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí bao gồm: - Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm: là các khoản phải chi bằng tiền và khoản trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm và nghiệp vụ kinh doanh thường xuyên khác trong kỳ kinh doanh của DNKDBH.
Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm được hạch toán chi tiết theo từng hoạt động như: hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, hoạt động kinh doanh nhận tái bảo hiểm, hoạt động kinh 12 doanh nhượng tái bảo hiểm và hoạt động kinh doanh khác. - Chi phí bán hàng: là những khoản chi ra phục vụ cho quá trình phân phối sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Đối với DNKDBH, chi phí bán hàng chủ yếu là những khoản chi phí phục vụ cho việc bán các sản phẩm bảo hiểm bao gồm: chi phí nhân viên, chi phí dụng cụ đồ dùng, chi phí ấn chỉ khuyến mại, chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ), chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí cho việc quản lý, điều hành và phục vụ chung cho toàn bộ DNKDBH; bao gồm: chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, khấu hao TSCĐ, thuế phí va lệ phí, chi phí dự phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí quản lý đại lý bảo hiểm, chi phí khác.
- Chi phí hoạt động tài chính:chi phí tài chính trong DNKDBH là toàn bộ các khoản phải chi, phải trích liên quan đến các hoạt động về vốn, các hoạt động đầu tư tài chính và các nghiệp vụ mang tính chất tài chính của DNKDBH trong kỳ kế toán - Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp. - Chi phí khác b. Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng chịu chi phí bao gồm: - Chi phí trực tiếp: Là những chi phí trực tiếp liên quan đến đối tượng kế toán tập hợp chi phí như từng loại sản phẩm, công việc, đơn đặt hàng, hoạt động,. chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng phải chịu chi phí.
Loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, chúng dễ nhận biết và hạch toán chính xác như chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm. - Chi phí gián tiếp: Chi phí gián tiếp là những chi phí chung phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí khác nhau, bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quảng cáo.