CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÔNG NỢ PHẢI THU TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về kế toán công nợ phải thu 1. Khái niệm,phân loại nợ phải thu 1. Một số khái niệm cơ bản về kế toán nợ phải thu Khái niệm nợ phải thu có rất nhiều khái niệm trong kinh tế học.
Theo quan niệm cổ điển: “ Nợ phải thu là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp, thể hiện quyền của đơn vị trong việc nhận tiền, sản phẩm, hàng hóa từ khách hàng, các tổ chức và cá nhân khác trong quá trình kinh doanh. Khi doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, sản phẩm dịch vụ cho khách hàng nhưng chưa được thanh toán tiền sẽ hình thành khoản nợ phải thu còn phát sinh trong trường hợp bắt bồi thường, cho mượn vốn tạm thời, khoản ứng trước tiền cho người bán, các khoản tạm ứng.Như vậy, nợ phải thu chính là tài sản của doanh nghiệp bị chiếm dụng tạm thời” Theo Giáo trình Kế toán tài chính,NXB Thống kê Hà Nội năm 2010: “ Nợ phải thu là trong quá trình hoạt động kinh doanh, giữa doanh nghiệp với khách hàng, với các đối tượng khác ở bên ngoài và bên trong doanh nghiệp phát sinh các mối quan hệ kinh tế. Các mối quan hệ kinh tế đó làm phát sinh các quan hệ thanh toán mà doanh nghiệp được quyền đòi tiền ở đối tượng có liên quan” 1. Phân loại nợ phải thu Theo Giáo trình Kế toán tài chính, NXB Thống kê Hà Nội năm 2010 thì phân loại nợ phải thu theo nội dung kinh tế và phân loại nợ phải thu theo thời hạn thanh toán.
- Phân loại theo nội dung kinh tế, các khoản phải thu bao gồm 6 khoản phải thu sau: + Phải thu của khách hàng: là khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bất động sản đầu tư và tài sản cố định. + Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: là số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ, TSCĐ.mua vào để sử dụng trong hoạt động kinh doanh. + Phải thu nội bộ: là khoản nợ phải thu của doanh nghiệp đối với đơn vị cấp trên ( là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh độc lập không phải là cơ quan quản lý) hoặc giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp độc lập trong Tổng GVHD: Th.S Đàm Bích Hà 6 SVTH: Lê Thị Hồng Diệp Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán công ty về các khoản vay mượn, chi hộ, trả hộ, thu hộ hoặc các khoản mà doanh nghiệp cấp dưới có nghĩa vụ nộp lên cấp trên hoặc cấp trên phải cấp cho cấp dưới. + Phải thu khác: là những khoản phải thu của doanh nghiệp ngoài các khoản phải thu nói trên như thu về bồi thường vật chất, các khoản cho vay, mượn tài sản có tính chất tạm thời, các khoản chi hộ đơn vị giao úy thác xuất nhập khẩu, các khoản phải thu phát sinh khi cổ phần hóa công ty Nhà nước, tiền lãi cổ tức, lợi nhuận phải thu từ các hoạt động đầu tư tài chính.
+ Phải thu của người nhận tạm ứng: là một khoản tiền hoặc tài sản khác do doanh nghiệp giao cho người lao động trong doanh nghiệp nhận tạm ứng để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh hoặc giải quyết một số công việc nào đó được phê duyệt. + Phải thu về các khoản cầm cố, ký quỹ, ký cược: là tài sản và tiền của doanh nghiệp mang đi cầm cố, ký quỹ, ký cược để vay vốn hoặc nhận được sự bảo lãnh hoặc tạo ra sự ràng buộc về pháp lý giữa doanh nghiệp với đối tác bên ngoài trong quá trình hoạt động. - Phân loại theo thời hạn thanh toán, các khoản phải thu chia thành 2 loại: + Các khoản phải thu ngắn hạn: bao gồm các khoản phải thu tại thời điểm báo cáo tài chính năm có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trong 12 tháng tới hoặc trong một chu kỳ kinh doanh bình thường. + Các khoản phải thu dài hạn: bao gồm các khoản phải thu tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm hoặc hơn một chu kỳ kinh doanh.
Nguyên tắc kế toán công nợ phải thu trong doanh nghiệp - Nợ phải thu được theo dõi chặt chẽ chi tiết theo từng đối tượng phải thu. Đối với các khoản phải thu bằng ngoại tệ, phải theo dõi cả đồng ngoại tệ và đồng Việt Nam theo quy định tài chính hiện hành. - Phải thường xuyên kiểm tra đôn đốc thu hồi nợ, tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn hoặc nợ lâu dài. Đối với khách hàng có quan hệ mua hàng thường xuyên hoặc có số dư lớn thì cuối tháng doanh nghiệp cần tiến hành kiểm tra, đối chiếu từng khoản nợ đã phát sinh, đã thu hồi, số còn nợ.Trường hợp khách hàng thanh toán nợ bằng hàng hóa hoặc bù trừ giữa nợ phải thu và nợ phải trả.cần có đủ chứng GVHD: Th.S Đàm Bích Hà 7 SVTH: Lê Thị Hồng Diệp Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán từ hợp pháp, hợp lệ có liên quan như biên bản đối chiếu công nợ, biên bản bù trừ công nợ, biên bản thất thu xóa nợ kèm theo bằng chứng về số dư nợ.
- Doanh nghiệp cần phải phân loại thành nợ phải thu ngắn hạn và dài hạn, căn cứ vào thời hạn thanh toán từng khoản nợ phải thu để có biện pháp thu nợ thích hợp, và là cơ sở để lập BCĐKT vào cuối năm. - Nợ phải thu cần phải được phân loại theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính để phục vụ cho việc lập báo cáo luuw chuyển tiền tệ. - Ghi chép, phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính xác về từng khoản nợ phát sinh theo từng khoản nợ và thời gian thanh toán từng khoản nợ cụ thể. - Giám sát tình hình công nợ và chấp hành kỷ luật thanh toán tài chính, tín dụng.
Vận dụng hình thức thanh toán tiên tiến, hợp lý để đảm bảo thanh toán kịp thời, đúng hạn ngăn ngừa tình trạng chiếm dụng vốn không hợp lý nhằm cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán công nợ phải thu 1. Yêu cầu quản lý công nợ phải thu - Mở sổ theo dõi các khoản nợ theo từng đối tượng nợ, thường xuyên phân loại các khoản nợ, đôn đốc thu hồi nợ, định kỳ đối chiếu công nợ. - Người đứng đầu công ty(chủ tịch,giám đốc)có trách nhiệm xử lý kịp thời các khoản nợ phải thu khó đòi, nợ không thu hồi được.Nếu không xử lý kịp thời dẫn đến thất thoát vốn của chủ sở hữu tại doanh nghiệp thì phải đền bù thiệt hại bằng tài sản cá nhân, chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu và trước pháp luật - Khi xác định là nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệp phải trích lập dự phòng đối với khoản nợ phải thu khó đòi.
Nhiệm vụ kế toán công nợ phải thu - Tính toán, ghi chép phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ từng khoản nợ phải thu theo từng đối tượng về số nợ phải thu, số nợ đã thu,số nợ còn phải thu. - Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc chấp hành chế độ, quy định về quản lý các khoản nợ phải thu - Tổng hợp và xử lý nhanh thông tin về tình hình công nợ trong hạn,đến hạn, quá hạn và công nợ có khả năng khó trả, khó thu, để quản lý tốt công nợ, góp phần cải thiện tốt tình hình của doanh nghiệp GVHD: Th.S Đàm Bích Hà 8 SVTH: Lê Thị Hồng Diệp Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán - Đối với các khoản công nợ có gốc ngoại tệ thì theo dõi như đối với đồng Việt Nam. - Phải chi tiết theo cả chỉ tiêu giá trị và hiện vật đối với các khoản nợ bằng vàng, bạc,đá quý. Cuối kỳ phải điều chỉnh số dư theo giá thực tế.
Kế toán công nợ phải thu theo quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành 1.1 Kế toán công nợ phải thu theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam - Nội dung chuẩn mực kế toán số 01 “ chuẩn mực chung” Chuẩn mực được ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Chuẩn mực này phản ánh các nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản, các yêu cầu của BCTC. Doanh nghiệp cần tôn trọng một số quy định sau khi kế toán nợ phải thu. + Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của DN liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền.
Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì việc ghi nhận công nợ phải thu khách hang có ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp trong kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định tài sản của doanh nghiệp.Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng. + Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận.
Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể. Như vậy, khi vận dụng nguyên tắc giá gốc, chỉ được đánh giá giá trị tài sản dựa trên căn cứ tiền mặt hoặc tương đương tiền mặt. Việc ghi nhận đúng theo nguyên tắc giá gốc giúp DN đánh giá đúng chỉ tiêu về tài sản, công nợ, chi phí… GVHD: Th.S Đàm Bích Hà 9 SVTH: Lê Thị Hồng Diệp Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán theo đúng giá ở thời điểm mua tài sản đó, không phải giá trị tại thời điểm xác dịnh giá tài sản theo thị trường. + Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn.