Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lí hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường phổ thông 1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Hoạt động KĐCLGD được bắt nguồn từ châu Mỹ cụ thể là từ Bắc Mỹ và Hoa Kỳ đã được hình thành và có lịch sử lâu đời. Mặc dù vậy, hoạt động này mới chỉ phát triển ở những năm 90 của thế kể XX, khi mà giáo dục đại học của thế giới đang chuyển dần từ nền giáo dục theo định hướng của nhà nước sang nền giáo dục theo định hướng thị trường.
Năm 1885, ở New England thuộc miền Đông Bắc Hoa Kỳ đã thành lập một tổ chức phi chính phủ gọi là Hội các trường học và trường cao đẳng của New England (NE). Đây là một tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục địa phương đầu tiên thuộc phạm vi vùng gồm một số bang với mục đích là “đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục bằng cách thúc đẩy lợi ích chung cho cả hai loại trường là cao đẳng và trường chuẩn bị vào cao đẳng” Hội này đổi tên thành Hội các trường Cao đẳng và Trung học của New England năm 1957. “Kiểm định cơ sở đào tạo tại địa phương có phạm vi bao trùm toàn bộ một cơ sở đào tạo với sự cố gắng giữ được các tiêu chuẩn đối với mọi hoạt động của cơ sở đó mà không phải chứng minh chất lượng một bộ phận nào của cơ sở đó”. Ở châu Á, các nước như Singapo, hệ thống đánh giá bên ngoài của các Trường Đại học Quốc gia do các chuyên gia của các trường đại học danh tiếng trên thế giới đến đánh giá 2 năm/lần; Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã xây dựng hệ thống KĐCLGD với chu kỳ kiểm định 7 năm/lần; Thái Lan đã ban hành chính sách quốc gia về bảo đảm chất lượng đào tạo đại học từ 1996 và thử nghiệm đánh giá bên ngoài từ 1997; Philipin thực hiện 9 biện pháp cải cách giáo dục cơ bản để nâng cao chuẩn của chất lượng giáo dục đại học trên toàn quốc; Trung Quốc đã ban hành quy chế tạm thời về đánh giá các cơ sở giáo dục và đào tạo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đại học; Ấn Độ đưa ra hệ số tính điểm để thể hiện rõ những tiêu chí đánh giá quan trọng.
Đối với Ôxtraylia, vấn đề bảo đảm chất lượng được chú trọng từ những năm 1980 và một số trường đã bước đầu thành công trong việc tổ chức và đánh giá trường theo định kỳ. Đến nay cơ chế bảo đảm chất lượng ở Ôxtraylia đã hình thành với nhiều cơ quan, như Cơ quan chất lượng các đại học Ôxtraylia (AUNQA)…Vấn đề bảo đảm chất lượng giáo dục đại học Malaysia theo mô hình của NiuDilân với cơ chế đảm bảo chất lượng bên trong và bên ngoài. Để một trường đào tạo có thể được phép tổ chức các khóa học thì các khóa đó phải được đánh giá bằng 2 chuẩn cơ bản được gọi là chuẩn tối thiểu và chuẩn kiểm định. Theo điều luật LAN năm 1996, kiểm định có ý nghĩa như là sự công nhận chính thức trên thực tế các chứng chỉ, các bằng đại học và sau đại học do cơ sở giáo dục và đào tạo đại học cấp là phù hợp với yêu cầu của tổ chức LAN.
Tại khu vực Đông Nam Á, năm 1995 mạng lưới các trường đại học khối ASEAN (AUN) đã được thành lập, bao gồm 17 đại học hàng đầu các nước thành viên ASEAN. Một trong những hoạt động chính của AUN là xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng. Một trong những hoạt động chính của AUN là xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng với chính sách 5 điểm sau: - Các đại học thành viên của AUN sẽ cố gắng liên tục để tăng cường thực hiện hệ thống bảo đảm chất lượng. - Các đại học thành viên của AUN sẽ thực hiện việc trao đổi bảo đảm chất lượng và các chương trình đào tạo trong khuôn khổ thực hiện thỏa thuận giữa các giám đốc cơ quan bảo đảm chất lượng của các đại học thành viên.
- Các giám đốc các cơ quan bảo đảm chất lượng của các đại học thành viên AUN sẽ hoạch định kế hoạch hình thành và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng của mình và được công nhận bởi AUN. - Các đại học thành viên của AUN hoan nghênh việc thực hiện kiểm toán bên ngoài lẫn nhau trên cơ sở các thỏa thuận và sử dụng công cụ kiểm toán chung được thừa nhận trên thế giới và các chuẩn mực của các đại học thành viên. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các tiêu chí chất lượng các hoạt động chính sách của các đại học thành viên AUN (giảng dạy-học tập, nghiên cứu và dịch vụ) sẽ được thể hiện trong các công cụ kiểm toán do AUN soạn thảo gồm hệ thống 6 tiêu chí bảo đảm chất lượng (Mỗi tiêu chí có 2 mức). Từ đó cho thấy, hoạt động KĐCLGD cũng như các tiêu chuẩn, quy định, chu kỳ, chu trình thực hiện đã xuất hiện và phát triển lâu đời.
Với ý nghĩa thực tiễn của nó, KĐCLGD đánh giá hiện trạng các cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn đề ra, tìm các điểm mạnh điểm yếu của CSGD, từ đó phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển nhằm nâng cao CLGD của các CSGD 1. Tại Việt Nam Tại Việt Nam sau khi Cục Khảo thí Kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Bộ GDĐT lựa chọn KĐCL như một biện pháp chính thức để nâng cao chất lượng giáo dục. Công tác này đã được khẳng định về mặt pháp lý thông qua Luật Giáo dục 2005 và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 1/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục [8]. Bộ GDĐT quy định: “Kiểm định chất lượng giáo dục trường là hoạt động đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ GDĐT quy định đối với trường ở từng trình độ đào tạo” (Quyết định số 76/2007/QĐ-BGDĐT ngày 14/12/2007 của Bộ trưởng Bộ GDĐT).
Ngày 31/12/2008 Bộ GDĐT ra Quyết định số 83/2008/QĐ-BGDĐT Ban hành Quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông. Ngày 08/9/2009 Bộ GDĐT ra công văn số 7880/BGDĐT- KTKĐCLGD về hướng dẫn tự đánh giá cơ sở giáo dục phổ thông nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về công tác đánh giá và kiểm định CLGD. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, Nguyễn Đức Chính (2002) trong công trình “Kiểm định chất lượng trong giáo dục” [7] đã trình bày rất rõ các khái niệm liên quan đến thuật ngữ KĐCLGD. Nghiên cứu này đã đi sâu, chi tiết các phương pháp, kỹ thuật, quy trình, cơ chế, chính sách KĐCLGD ở các nước Châu Âu, Hoa Kỳ, Châu Á Thái Bình Dương.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng 11/2005, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục tổ chức seminar khoa học “Những tiêu chí và chỉ số cơ bản của CLGD” trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn về CLGD và đánh giá CLGD”. Seminar đã đưa ra một báo cáo cụ thể về “Những tiêu chí và chỉ số cụ thể của CLGD cấp hệ thống”. Ngoài ra, có rất nhiều sáng kiến kinh nghiệm của các cán bộ quản lý liên quan tới công tác kiểm định chất lượng giáo dục trường THCS như: Phan Quốc Cường (2016) Biện pháp quản lí hoạt động tự đánh giá trong KĐCLGD ở các trường THCS Huyện Đắc Tô, tỉnh Công Tum.Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục, NXB Giáo dục; Lê Đức Ngọc (2009), Tổng quan về kiểm định và đảm bảo chất lượng về giáo dục phổ thông, Tài liệu tập huấn về KĐCLGD phổ thông - Bộ Giáo dục và Đào tạo [7]; Phạm Anh Đức (2014), Quản lý hoạt động tự đánh giá của Hiệu trưởng các trường THCS ở thành phố Thái Bình, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục - Trường ĐH sư phạm Thái Nguyên [12]; Lê Đức Ngọc (2009), Tổng quan về kiểm định và đảm bảo chất lượng về giáo dục phổ thông, Tài liệu tập huấn về KĐCLGD phổ thông - Bộ Giáo dục và Đào tạo [16]; Lê Trường Sơn (2014), “Các biện pháp nâng cao chất lượng thực hiện tự đánh giá công tác kiểm định chất lượng trường THCS tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015-2020”, Đề án tốt nghiệp cao cấp chính trị - Học viện Chính trị khu vực I [18]. Một số khái niệm cơ bản 1.
Chất lượng Chất lượng là một khái niệm quen thuộc từ lâu, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Vì thế cần phải làm rõ khái niệm về chất lượng. Tùy theo đối tượng sử dụng, từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận.
Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do đó con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn chất hóa ISO đưa ra định nghĩa sau: Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Từ định nghĩa rút ra một số đặc điểm của khái niệm chất lượng: - Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu.
Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém… Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà quản lý chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình. - Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. - Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta chỉ xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phia khách hàng mà còn từ phía các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.