Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Cho Học Viên Ở Học Viện Biên Phòng Hiện Nay

Chuyên khảo giáo dục phân tích Luận văn giáo dục chính trị tư tưởng cho học viên ở học viện biên phòng hiện nay, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Trường đại học

Học viện Biên phòng

Chuyên ngành

Giáo dục chính trị, tư tưởng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
106
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO HỌC VIÊN Ở HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG HIỆN NAY

1.1. Những khái niệm cơ bản

1.2. Vị trí, vai trò, nội dung và yêu cầu giáo dục chính trị, tư tưởng cho học viên ở Học viện Biên phòng

1.3. Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho học viên ở Học viện Biên phòng

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC CHÍNH, TƯ TƯỞNG CHO HỌC VIÊN Ở HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG HIỆN NAY

2.1. Những vấn đề cơ bản về quá trình giáo dục- đào tạo ở Học viện Biên phòng

2.2. Thực trạng giáo dục chính trị, tư tưởng cho học viên ở Học viện Biên phòng hiện nay

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO HỌC VIÊN Ở HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG VÀ THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Các biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng cho học viên ở Học viện Biên phòng hiện nay

3.2. Thử nghiệm sư phạm

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo dục chính trị tư tưởng cho học viên Học viện Biên phòng

Giáo dục chính trị tư tưởng (GDCT,TT) cho học viên ở Học viện Biên phòng hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ. GDCT,TT không chỉ giúp học viên hiểu rõ về lý luận chính trị mà còn hình thành niềm tin vững chắc vào Đảng và Nhà nước. Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp.

1.1. Khái niệm và vai trò của giáo dục chính trị tư tưởng

GDCT,TT là quá trình bồi dưỡng nhận thức chính trị cho học viên, giúp họ hình thành thế giới quan khoa học và niềm tin cách mạng. Vai trò của GDCT,TT là rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của học viên.

1.2. Lịch sử phát triển giáo dục chính trị tư tưởng tại Học viện Biên phòng

Học viện Biên phòng đã trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, trong đó GDCT,TT luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Các chương trình giáo dục đã được cải tiến để phù hợp với yêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

II. Những thách thức trong giáo dục chính trị tư tưởng cho học viên hiện nay

Mặc dù GDCT,TT đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Những tác động tiêu cực từ xã hội và mặt trái của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng đến nhận thức và bản lĩnh chính trị của học viên. Cần có những biện pháp khắc phục kịp thời để nâng cao chất lượng GDCT,TT.

2.1. Tác động của xã hội đến giáo dục chính trị tư tưởng

Sự phát triển nhanh chóng của xã hội và kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều áp lực đối với học viên. Những yếu tố này có thể làm giảm sút niềm tin và bản lĩnh chính trị của họ.

2.2. Hạn chế trong nội dung và phương pháp giáo dục

Một số nội dung trong chương trình GDCT,TT chưa thực sự đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Phương pháp giáo dục cũng cần được đổi mới để phù hợp hơn với tâm lý và nhu cầu của học viên.

III. Phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng hiệu quả cho học viên

Để nâng cao chất lượng GDCT,TT, cần áp dụng các phương pháp giáo dục hiện đại và phù hợp. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ giúp học viên tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả hơn.

3.1. Đổi mới nội dung giáo dục chính trị tư tưởng

Nội dung GDCT,TT cần được cập nhật thường xuyên, phản ánh đúng tình hình thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ. Việc này sẽ giúp học viên có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về chính trị.

3.2. Áp dụng phương pháp giáo dục tích cực

Sử dụng các phương pháp giáo dục tích cực như thảo luận nhóm, thực hành, và các hoạt động ngoại khóa sẽ giúp học viên phát triển tư duy phản biện và khả năng tự học.

IV. Ứng dụng thực tiễn của giáo dục chính trị tư tưởng tại Học viện Biên phòng

GDCT,TT không chỉ là lý thuyết mà còn cần được áp dụng vào thực tiễn. Các hoạt động thực tiễn sẽ giúp học viên củng cố kiến thức và nâng cao bản lĩnh chính trị.

4.1. Các hoạt động ngoại khóa và thực tiễn

Các hoạt động ngoại khóa như tham quan, giao lưu với các đơn vị quân đội khác sẽ giúp học viên có cái nhìn thực tế hơn về nhiệm vụ và trách nhiệm của mình.

4.2. Kết quả đạt được từ giáo dục chính trị tư tưởng

Nhiều học viên sau khi tham gia GDCT,TT đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ sĩ quan.

V. Kết luận và hướng phát triển giáo dục chính trị tư tưởng trong tương lai

GDCT,TT cho học viên ở Học viện Biên phòng cần được tiếp tục phát triển và hoàn thiện. Việc nâng cao chất lượng GDCT,TT sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

5.1. Định hướng phát triển giáo dục chính trị tư tưởng

Cần xác định rõ định hướng phát triển GDCT,TT trong giai đoạn tới, tập trung vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.

5.2. Những giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng giáo dục

Đề xuất các giải pháp cụ thể như tăng cường bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, đổi mới phương pháp giảng dạy và tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị trong công tác GDCT,TT.

11/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO HỌC VIÊN Ở HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG HIỆN NAY 1. Những khái niệm cơ bản 1.Giáo dục chính trị, tư tưởng * Giáo dục chính trị Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các quốc gia, dân tộc, trong đó vấn đề cốt lõi là quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội, là vấn đề giành và giữ chính quyền, duy trì sử dụng quyền lực nhà nước vì lợi ích của giai cấp. Chính trị phản ánh sâu sắc lợi ích, địa vị kinh tế của giai cấp, đồng thời giữ địa vị hàng đầu đối với kinh tế, xâm nhập và chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt, đa dạng và phức tạp, liên quan đến lợi ích của các giai cấp, các lực lượng xã hội.

Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội trong vấn đề chính quyền; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước; là tổng hợp những phương pháp, phương thức hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái nhằm giáo dục, giác ngộ quần chúng tham gia vào quá 10 trình giành, giữ và điều khiển hoạt động của Nhà nước để bảo vệ lợi ích của giai cấp. Đối với quân đội, GDCT của Đảng là hoạt động bồi dưỡng CNM – LN, TTHCM, đường lối chính sách của Đảng vào một bộ phận lực lượng cách mạng đặc thù. Đó là quá trình giáo dục nhằm đem lại cho họ những hiểu biết về lý luận chính trị, những tri thức về thế giới quan khoa học, về đường lối chính sách của Đảng biến nó thành niềm tin, thành lý tưởng, thành nguyên tắc đạo đức của cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó mà nâng cao tính tự giác, chủ động, sáng tạo của họ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Vì vậy, phải tổ chức một cách chủ động, khoa học việc giáo dục chính trị, làm cho nó trở thành một khoa học và một nghệ thuật. Giáo dục chính trị trong quân đội là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của tổ chức đảng các cấp nhằm phổ biến những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội giúp họ hình thành, củng cố phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc. Nội hàm khái niệm đó chỉ rõ : “Giáo dục chính trị cho quân nhân” bao gồm toàn bộ những hoạt động của quá trình bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, xây dựng niềm tin cách mạng, hình thành thói quen hành vi chính trị, đạo đức cách mạng cho quân nhân. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị là giai đoạn rất quan trọng, bởi vì nhận thức là cơ sở cho việc xây dựng và củng cố niềm tin chính trị.

Thực chất giai đoạn này nhằm trang bị cho các quân nhân hệ thống tri thức chính trị. Cốt lõi của tri thức chính trị là phổ biến cho quân nhân những nguyên lý cơ bản của CNM- LN, TTHCM, nhất là các vấn đề về chiến tranh và quân đội, về xây dựng quân đội cách mạng của giai cấp công nhân; vấn đề đường lối quan điểm của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, phương 11 hướng xây dựng quân đội qua từng thời kì cách mạng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Quá trình giáo dục phải làm cho những tri thức mà các quân nhân đã lĩnh hội thấm sâu vào lý trí, nảy sinh những cảm xúc tình cảm, phát triển ý chí và hình thành những quan điểm, tư tưởng đúng đắn. Giai đoạn xây dựng niềm tin chính trị là kết quả của hiểu biết chính trị, đồng thời là tiền đề quy định hành vi và hoạt động.

Việc xây dựng niềm tin chính trị không chỉ thông qua các hoạt động nhận thức mà còn thông qua các hoạt động tình cảm và ý chí, thông qua các hoạt động của các quân nhân trong thực tiễn. Chỉ có thể xây dựng niềm tin cộng sản cho quân nhân khi đã trang bị cho họ những kiến thức chính trị vững chắc, khơi dậy ở họ những tình cảm sâu sắc và ý chí mạnh mẽ. Rèn luyện thói quen, hành vi chính trị đạo đức cho quân nhân, về thực chất là sự lặp đi, lặp lại nhiều lần những hành vi tốt đẹp, trở thành ý thức tự giác ăn sâu vào lối sống, như một nhu cầu tự nhiên của cá nhân; những thói quen đó giúp các quân nhân ứng xử một cách mau lẹ và đúng đắn trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. * Giáo dục tư tưởng Thuật ngữ " tư tưởng có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ "idea", có nghĩa là hình thức.

Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa tư tưởng khác nhau: tư tưởng là sự phản ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người đối với thế giới chung quanh. Là những quan điểm, ý nghĩa phản ánh thế giới vật chất trong nhận thức con người và thể hiện mặt này hay mặt khác của thế giới khách quan [43, tr. Từ điển tiếng Việt nêu khái niệm về tư tưởng gồm: 1 “Sự suy nghĩ, hoặc ý nghĩ. Thí dụ : Tập trung tư tưởng.

2 Quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội (nói tổng quát) Thí dụ : Tư tưởng tiến bộ, tư tưởng phong kiến, đấu tranh tư tưởng” Khái niệm về tư tưởng có thể hiểu các khía cạnh sau : 12 Thứ nhất: Đó là sự suy nghĩ hoặc ý nghĩ của cá nhân người này hoặc người khác đối với một số vấn đề, một sự kiện, một tập thể, một người nào khác. Thứ hai: Đó là quan điểm ý nghĩ của một tập thể, một giai cấp, một tầng lớp xã hội đối với một vấn đề, một sự kiện. Thí dụ : Thế hệ trẻ Việt Nam tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin yêu và kính trọng những người đi trước. Lênin coi tư tưởng là hình thức cao nhất của nhận thức, là những mục tiêu, chương trình, kế hoạch nhằm tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới khách quan.

Theo Mác, tư tưởng phải gắn với lợi ích, tư tưởng mà không gắn với lợi ích là điều hết sức vô nghĩa. Trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, đấu tranh tư tưởng đã góp phần quan trọng giúp giai cấp vô sản giành chính quyền. Sau khi có chính quyền, đấu tranh tư tưởng vẫn tiếp tục để chống các tàn dư tư tưởng của xã hội cũ, những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc và các tư tưởng thù địch phản động để làm cho ý thức xã hội chủ nghĩa chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần của xã hội. Từ sự phân tích trên có thể đi đến khái niệm về tư tưởng như sau: Tư tưởng là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan trong ý thức con người, biểu hiện những lợi ích của con người, giai cấp về xã hội.

Đó là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, phản ánh lợi ích của một con người, một tập đoàn người, một giai cấp, một dân tộc trong một thời đại nhất định. Tuỳ thuộc vào trình độ và tính chất, nội dung sự phản ánh mà có tư tưởng đúng và tư tưởng sai, có tư tưởng tiến bộ và tư tưởng lạc hậu, có tư tưởng phản động kìm hãm sự phát triển của xã hội. Vì vậy, trong xã hội có giai cấp luôn luôn có sự đấu tranh giữa các giai cấp về mặt tư tưởng. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng là đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng: hệ tư tưởng của giai cấp thống trị và hệ tư tưởng của giai cấp bị thống trị.

* Giáo dục CT,TT trong quân đội Từ điển bách khoa quân sự XôViết định nghĩa: "GDCT,TT trong các lực lượng vũ trang là hệ thống các biện pháp nhằm hình thành cho sĩ quan và 13 chiến sĩ có đủ trình độ tư tưởng và sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu để giành được chiến thắng trong chiến tranh" [44, tr. Từ điển giải thích thuật ngữ quân sự, do Cục Khoa học quân sự. Bộ Tổng tham mưu, QĐNDVN, xuất bản năm 1985 giải thích: "GDCT,TT, quá trình tác động liên tục, có cơ sở khoa học, có định hướng vào đối tượng được giáo dục nhằm bồi dưỡng cho họ khả năng nhận thức chính trị đúng đắn, thái độ chính trị phù hợp với quan điểm cách mạng, tinh thần kiên định đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. GDCT,TT là một nội dung cơ bản trong việc đào tạo và rèn luyện quân nhân cách mạng, được tiến hành một cách thường xuyên và có hệ thống đối với mỗi quân nhân trong suốt quá trình tại ngũ, bằng huấn luyện chính trị theo các chương trình phù hợp với từng cấp quân nhân, bằng công tác tuyên truyền và vận động chính trị và bằng sinh hoạt tập thể trong quân đội" [41, tr.

Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa : GDCT,TT trong quân đội ta là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có hệ thống của chủ thể giáo dục nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho cán bộ,chiến sĩ; xây dựng cho họ thế giới quan và phương pháp luận khoa học, bản lĩnh chính trị vững vàng, góp phần nâng cao nhận thức chính trị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Do đó có thể khẳng định: Bản chất của GDCT,TT trong quân đội ta là đấu tranh tư tưởng để xác lập vị trí thống trị tuyệt đối của CNM- LN, TTHCM trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; bồi dưỡng, rèn luyện những quân nhân có thế giới quan khoa học, cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống của giai cấp công nhân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Giáo dục CT,TT là hai phạm trù khác nhau, nhưng luôn quan hệ gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau; tư tưởng thống trị xã hội là nền tảng của ý thức và các tổ chức chính trị của xã hội đó. Tư tưởng mang tính tiến bộ là nền tảng vững chắc của chế độ chính trị ổn định, vững mạnh; ngược lại, 14 chính trị được xem như là nền tảng vật chất cho tư tưởng phát huy sức mạnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ