Chương 1 TỎNG QUAN LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG DỊCH VỤ CÔNG 1.1 Khái niệm về dịch vụ công Có nhiều cách tiếp cận khái niệm, thuật ngữ dịch vụ công dưới các góc độ khác nhau, nhưng về cơ bản đều thống nhất tương đối ở các đặc điểm Sau: Là một loại dịch vụ do cơ quan Nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho các tổ chức, đơn vị ngoài Nhà nước thực hiện dưới sự giám sát của Nhà nước; Nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu, thiết yếu của xã hội, của người dân, không nhằm mục tiêu lợi nhuận:[4] Gronroos (2001), dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi các hoạt động mà ít hay nhiều đều mang tính vô hình, nhưng không nhất thiết đều là vô hình, diễn ra trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, và (hoặc) sản phẩm, và (hoặc) hệ thống cung cấp dịch vụ, thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề ( nhu cầu) của khách hàng.[17] Xuất phát từ cơ sở nhận thức như trên, có thể tạm chia dịch vụ công ở nước ta hiện nay thành các loại sau: Thứ nhất, những dịch vụ sự nghiệp công phục vụ những nhu cầu thiết yếu cho xã hội, quyền và lợi ích công dân. Nhà nước trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước hoặc uỷ quyền cho các tổ chức ngoài Nhà nước thực hiện, như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học, bảo hiểm an sinh xã hội, phòng cháy chữa cháy, bão lụt, thiên tai, dịch vụ tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho người nghèo. Thứ hai, những hoạt động mang tính dịch vụ công ích, đây là các hoạt động có một phần mang tính chất kinh tế, hàng hoá như cung cấp điện, cấp nước sạch, giao thông công cộng đô thị, viễn thông, vệ sinh môi trường, xây dựng kết cấu hạ tầng, vận tải công cộng, khuyến nông, khuyến ngư [4] Tóm lại, dù có sự phân định thành bao nhiêu loại dịch vụ công đi chăng nữa thì vẫn đều có một đặc điểm chung cơ bản đó là Nhà nước là người có trách nhiệm đến cùng trước xã hội, công dân đối với chất lượng, cũng như quy định khung giá cả (phí, lệ phí) cung cấp các loại hình của dịch vụ công.2 Chất lượng dịch vụ công Chất lượng là một phạm trù thường gặp trong các lĩnh vực hoạt động của xã hội. Có nhiều cách giải thích khác nhau về chất lượng tuỳ theo góc độ quan sát.
Theo t6 chire kiém tra chat luong Chau Au (European Organization for Quality Control) cho rằng “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”. Với chuyên gia hàng đầu thế giới về chất lượng, thì “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (Crosby Philip B. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng, nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường, các nhà cung cấp dịch vụ cũng phải cạnh tranh nhau để cung cấp cái mà thị trường cần. Vì vậy, tiếp cận từ góc độ của người tiêu dùng, của khách hàng, của thị trường là cần thiết.
Theo tiêu chuân Việt Nam TCVN 5814:1994 (tương ứng với với ISO 8402:1994) thì “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thé (đối tượng) có khả năng thoả mãn những nhu câu đã nêu ra hoặc tiêm ân”. Từ những định nghĩa nêu trên cho thấy chất lượng có những đặc điểm cơ bản như: Có thể áp dụng cho mọi đối tượng; đó có thể là một sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một tổ chức, một doanh nghiệp hay một cá nhân. Chất lượng phải là một tập hợp các đặc tính của thực thể thể hiện khả -10- năng thoả mãn những nhu cầu. Do đó, khi đánh giá chất lượng của thực thé ta phải xét đến mọi đặc tính của thực thê có liên quan đến sự thoả mãn những nhu cầu cụ thể.
Cho nên, nếu một thực thể dù đáp ứng được tiêu chuẩn nhưng không phù hợp với nhu cầu, không được thị trường chấp nhận thì vẫn bị coi là không đạt chất lượng. Chất lượng phải được gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội, phong tục, tập quán. Chất lượng cũng phải được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Sự thỏa mãn này phải được thể hiện trên nhiều phương diện: tính năng của sản phẩm, giá thỏa mãn nhu cầu, thời điểm cung cấp dịch vụ, an toàn [14].
Những nỗ lực định nghĩa và đo lường chất lượng đều bắt nguồn từ ngành sản xuất sản phẩm hữu hình. Người tiêu dùng có thể đánh giá một sản phẩm hữu hình thông qua hình dáng thiết kế sản phâm, màu sắc của bao bì. vì có thể sờ ngửi, nhìn, hoặc nếm sản phẩm trước khi mua. Trong khi đó, dịch vụ là sản phâm vô hình, chúng không đồng nhất nhau và cũng không thể tách ly được, nghĩa là quá trình tiêu dùng dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của nhà cung cấp dịch vu (Svensson, 2002).
Vì thé, không đễ dàng đánh giá chất lượng của nó. Trong một thời gian đài, nhiều nhà nghiên cứu đã cô gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ. Lehtimen & Lehtimen (1982) [20] cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ; và (2) kết quả của dịch vụ. Tuy nhiên, có lẽ Parasuraman & ctg (1985, 1988) [24] là người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ một cách cụ thể và chỉ tiết với mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ.3 Dịch vụ công trong lĩnh vực phát thanh 1.1 Khái niệm về phát thanh Phát thanh (radio) là loại hình truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin được chuyên tải bằng âm thanh.
Âm thanh trong phát thanh bao gồm lời nói, âm nhạc, các loại tiếng động làm nên hoặc minh hoa cho lời nói. Thuật ngữ phát thanh (radio) bao gồm cả hai loại hình là phát thanh qua làn sóng điện và truyền thanh qua hệ thống dây dẫn. Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử của phát thanh thì loại hình thứ nhất là cơ bản, là yếu tố quan trọng nhất làm nên chất lượng và sức mạnh to lớn của phát thanh. Nhờ nguyên tắc hoạt động này mà phát thanh có thê chuyên chở thông tin đến bat cứ đâu.[ 1] Về mặt kỹ thuật, người ta chia phát thanh thành 2 loại băng tần là AM và FM.
AM (Amplitude Modulation) là kỹ thuật điều biên được áp dụng trong phát thanh sóng dai, song trung va song ngan. FM (Frequency Modulation) là kỹ thuật điều tần được áp dụng trong phát thanh sóng cực ngắn. Phần lớn các đài phát thanh AM có công suất máy phát lớn hơn và tầm hoạt động xa hơn các đài FM. Tuy nhiên, chất lượng sóng của loại phát thanh này bị ảnh hưởng bởi nhiễu tĩnh.
Đài FM phát sóng thắng, hầu như không bị ảnh hưởng bởi nhiễu tĩnh nên chất lượng tín hiệu rất tốt. Vì thế, nó truyền các chương trình âm nhạc với chất lượng âm thanh nổi tốt hơn. Tuy nhiên, đài FM có phạm vi phủ sóng nhỏ nên chỉ thích hợp với các trung tâm đô thị lớn, các khu vực đông dân cư.2 Đặc điểm loại hình của phát thanh Phát thanh là một phương tiện truyền thông đại chúng đã trở thành quen thuộc trong nếp sống của mỗi người. Phát thanh chuyên tải thông tin cùng với sự biểu cảm, cho phép thể hiện trạng thái tâm lý và thái độ tình cảm.
Tiếng nói, âm nhạc và những âm thanh sống động làm cho phát thanh gần gũi hơn với cuộc sống thực, thu hút sự chú ý của công chúng. Phát thanh có khả năng to lớn trong việc cung cấp cho công chúng -12- những thông tin nhanh nhất, những chương trình âm nhạc với chất lượng cao. Phát thanh có lợi thế hơn hắn trong việc tiếp cận nguồn tin đối với những địa điểm hiểm trở, cách xa các trung tâm đô thị.{ I] Xét về mức độ tiện lợi, chỉ cần một máy thu thanh bỏ túi người ta có thé nghe được nhiều chương trình phát thanh khác nhau. Phát thanh là người bạn đồng hành với những nhà thám hiểm, khách lữ hành, người du lịch, người đi công tác, lái xe.
Phát thanh có sức mạnh đặc biệt trong việc truyền phát thông tin theo diện rộng nhằm tạo ra hiệu ứng xã hội một cách nhanh chóng. Hơn nữa, việc tiếp nhận thông tin phát thanh rất tiện lợi và không ngăn cản một số hoạt động khác của con người. Vì thế, phát thanh trở thành một phương tiện truyền thanh gắn bó và thân thiết với từng cá nhân. Nhận xét về phát thanh và dịch vụ công Phát thanh hiện nay đang mắt thé trong đời sống truyền thông mà truyền hình và internet đang diễn ra khá sôi động.
Người dân đang dần bỏ đi thói quen nghe phát thanh, mê truyền hình hơn. Chỉ còn giới tài xế nghe phát thanh giải trí, một ít cán bộ về hưu nghe tin tức buổi sáng. Tuy ngành phát thanh Việt Nam từng một thời là phương tiện truyền thông quan trọng số một, là cơ quan phát ngôn đối ngoại chính thức của Đảng và Nhà nước, nhưng giờ đây trước thách thức gay gắt của truyền hình và internet, phát thanh truyền thống đang mắt năng lực cạnh tranh do đó phải thay đổi dé tồn tại. Con đường tổn tại và phát triển của phát thanh không tách rời quỹ đạo của xu hướng tích hợp công nghệ hiện nay, đó là phải đa dạng hóa phương thức truyền dẫn và đa dạng hóa nội dung cho phù hợp với loại hình.
Nội dung phát thanh nhìn chung vẫn nặng về tuyên truyền, rất ít khai thác mô hình phát thanh công cộng với các chương trình chất lượng cao về thông tin, giáo dục, giải trí. Vấn đề cốt lõi của phát thanh tương lai chính là sự tiếp cận, tác động tới công chúng và phục vụ theo nhu cầu công chúng. Vì vậy, muốn làm được điều này, cần phải đầu tư và phát huy vào những đặc điểm vốn luôn là thế mạnh của phát thanh như sự gần gũi, thân -13- mat (intimacy), tinh tuwong tac (interactivity) va tinh địa phương hoá (locality). Cu thé, thinh gia cé thé tham gia lam chương trình; nguồn thu nhập phát thanh sẽ từ quảng cáo, nội dung, phí cấp phép, tài trợ; thời gian chuyển dịch theo ý muốn; phát thanh theo hướng đối tượng, thiết bị thu thanh được đa dạng hoá, có thể thực hiện trong bất cứ mạng lưới số nào.
Ngoài ra, thay vì nghe đài theo lich phát sóng cô định, thính giả có thể nhắn mạnh yếu té “thời gian theo ý tôi”.4 Do lường chất lượng dịch vụ công 1.