CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG GÓP PHẦN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. Tổng quan về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1.
Cơ cấu kinh tế Về mặt chất, cơ cấu kinh tế được định nghĩa “ là một tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế của mỗi nước. Các bộ phận đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao” (Lê Đình Thắng, 1999, trang 12) Về mặt lượng, cơ cấu kinh tế được xác định bằng tỷ trọng giá trị sản lượng (hoặc GDP) của từng bộ phận trong tổng giá trị sản lượng (hay GDP) của toàn bộ nền kinh tế. Các loại cơ cấu kinh tế thường hay được đề cập đó là: cơ cấu kinh tế theo ngành, cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế và cơ cấu kinh tế theo vùng miền; trong đó cơ cấu kinh tế theo ngành hay cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế và mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành thể hiện ở vị trí và tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng nhất và là tiêu chuẩn cơ bản phản ánh trình độ phát triển kinh tế cơ bản của một quốc gia.
Vì vậy, trong quá trình phát triển các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm đến xây dựng chiến lược chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, coi đó là điều kiện cơ bản để tăng trưởng và phát triển cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, cơ cấu kinh tế luôn thay đổi, “Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác trong một thời kỳ nhất định trên cơ sở phù hợp với điều kiện khách quan và chủ quan, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển” được gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Phạm Thị Khanh, 2010, trang 12) 2 Theo Nguyễn Trần Quế (2004); thực chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự phát triển không đều giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế. Bộ phận nào có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng và ngược lại, bộ phận có tốc độ phát triển thấp hơn sẽ giảm tỷ trọng. Nếu gọi X là một bộ phận cấu thành nên cơ cấu kinh tế, thì mức độ chuyển dịch của X sẽ được tính toán theo công thức sau: Tỷ trọng kỳ sau Tỷ trọng kỳ trước Tốc độ phát triển của X của bộ phận X = của bộ phận X x Tốc độ phát triển chung Trường hợp đặc biệt, nếu tất cả các bộ phận có cùng một tốc độ tăng trưởng thì tỷ trọng các bộ phận sẽ không đổi, nghĩa là lúc này không có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Thông thường, độ dịch chuyển cơ cấu sẽ thay đổi nhiều trong thời kỳ tăng trưởng nhanh vì khi đó sự chênh lệch về tốc độ phát triển giữa các bộ phận sẽ lớn. Khi tăng trưởng thấp, độ dịch chuyển cơ cấu sẽ chậm hơn do sự chênh lệch trong tốc độ phát triển giữa các bộ phận sẽ không lớn. Trong luận văn này khi nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tức là nói đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các chỉ tiêu đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỷ trọng đóng góp của mỗi ngành trong nền kinh tế tại thời điểm t0: - Trong đó: là tỷ trọng giá trị sản lượng của ngành i trong GDP tại thời điểm t0 Yi (t0) là giá trị sản lượng ngành i trong GDP tại thời điểm t0 - Chỉ tiêu tỷ trọng đóng góp của mỗi ngành trong nền kinh tế cho biết đóng góp về mặt lượng của mỗi ngành vào tổng sản lượng của nền kinh tế tại mỗi thời điểm.
Nếu xét trong một thời kỳ, chỉ số này thể hiện vai trò của mỗi ngành trong 3 nền kinh tế. Nếu xét nhiều thời kỳ liên tiếp, chỉ số này biểu hiện sự thay đổi vai trò của các ngành qua thời gian. Tương tự, các chỉ tiêu cơ cấu đầu tư, cơ cấu xuất nhật khẩu cũng được sử dụng để đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng các ngành trong nền kinh tế: - Mức tăng trưởng ngành kinh tế: Trong đó: Y0 là giá trị sản lượng của ngành i tại thời điểm gốc Yt là giá trị sản lượng của ngành i tại thời điểm t - Tốc độ tăng trưởng ngành i giữa thời điểm t và thời điểm gốc: - Tốc độ tăng trưởng ngành i liên hoàn: - Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn từ năm 0,1,.
Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến sự phát triển kinh tế - xã hội Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế kích thích tăng năng suất lao động xã hội. Khi cơ cấu kinh kinh tế chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp sẽ lôi kéo một bộ phận lao động cũng chuyển dịch theo. Việc chuyển dịch lao động từ những ngành có năng suất thấp ở khu vực nông nghiệp sang những ngành có năng suất cao ở khu vực công nghiệp sẽ khiến cho năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế tăng lên. Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm tiền đề cho tăng trưởng cao và ổn định.
Đối với các nhà kinh tế học, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng được coi là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của một nền kinh tế (Bùi 4 Tất Thắng, 2006). Để góp phần để đảm bảo hài hòa cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, xóa bỏ dần những mất cân đối đang tồn tại, nhiều nước đã chọn con đường phát triển toàn diện thông qua tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Nguyễn Trọng Uyên, 2007). Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Xét về mặt kinh tế, hai nhân tố quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình chuyên môn hóa và thay đổi công nghệ, tiến bộ kỹ thuật.
Quá trình chuyên môn hóa mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, hoàn thiện tổ chức, áp dụng công nghệ tiên tiến nâng cao năng suất lao động. Chuyên môn hóa cũng tạo ra những hoạt động dịch vụ và chế biến mới. Điều đó làm cho tỷ trọng của các ngành truyền thống giảm trong khi tỷ trọng các ngành dịch vụ kỹ thuật mới càng được tăng trưởng nhanh chóng, dần dần chiếm ưu thế và sản xuất ra những sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế hơn, tạo điều kiện để hội nhập kinh tế thuận lợi hơn. Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mở ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho người lao động.
Nhìn chung, một sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế dù là tự phát hay theo một chương trình hành động của Chính phủ đều có ảnh hưởng đến cơ cấu việc làm (Nguyễn Thị Cành, 2001). Để tạo bước chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế, Chính phủ sẽ phải định hướng các ngành mục tiêu, ngành mũi nhọn, để từ đó thực hiện các biện pháp, chính sách nhằm tăng cường, kích thích đầu tư, đào tạo huấn luyện lao động và thí điểm áp dụng công nghệ mới. Việc phát triển ngành kinh tế mũi nhọn có thể là động lực kéo theo sự phát triển những ngành có liên quan đến hoạt động của ngành kinh tế mũi nhọn, dẫn đến số lượng việc làm tạo ra nhiều hơn. Đi cùng với sự gia tăng việc làm ở các ngành mũi nhọn cũng có thể là sự phá sản ở một số ngành yếu thế hơn, và việc làm lại bị giảm.
Kết quả của sự thay đổi này bao giờ cũng sẽ là mất việc làm ở ngành này, tăng việc làm ở ngành khác (Nguyễn Thị Lan Hương, 2009) 5 1. Những nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Các nhân tố khách quan (i) Về điều kiện tự nhiên Nhân tố về điều kiện tự nhiên có thể hiểu là toàn bộ những đặc thù có tính chất tự nhiên mà trên cơ sở đó những hoạt động kinh tế của con người phải thích ứng và khai thác có hiệu quả. Nhân tố tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý của các vùng lành thổ; điều kiện đất đai của các vùng như điều kiện khí hậu, thời tiết; các nguồn tài nguyên khác của vùng lãnh thổ như nguồn nước, rừng, biển.
Các yếu tố tự nhiên trên tác động một cách trực tiếp đến sự hình thành, vận động và biến đổi cơ cấu kinh tế mà đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế. (ii) Thị trường và nhu cầu tiêu dùng xã hội Thị trường và nhu cầu tiêu dùng xã hội là “người” đặt hàng cho tất cả các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế. Nếu như xã hội không có nhu cầu thì tất nhiên không có bất kỳ quá trình sản xuất nào. Cũng như vậy, không có thị trường thì không có kinh tế hàng hóa.
Thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội không chỉ quy định về số lượng mà còn cả về chất lượng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nên nó tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế. Qua đó, tác động đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội, đến vị trí, tỷ trọng của các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất (Trương Thiện Thọ, 2006). (iii) Hội nhập kinh tế quốc tế Đây là nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngày nay, quá trình hợp tác và giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng thì hầu hết các quốc gia đều thực hiện các chiến lược kinh tế mở.
Thông qua quan hệ thương mại quốc tế, các quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế. Việc tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế sẽ làm cho các quốc gia khai thác và sử dụng mọi nguồn lực của mình có lợi nhất trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh.