CHƯƠNG 1 Chương này tác giả đã giới thiệu khái quát về đề tài, lý do hình thành đề tài. Ngoài ra, tác giả giới thiệu mục tiêu, ý nghĩa, phạm vi và kết cấu của luận văn. Chương này cũng trình bày thiết kế nghiên cứu, phương pháp lấy mẫu, kích thước mẫu, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu. Thiết kế nghiên cứu gồm những phần chính sau: Thảo luận nhóm để làm thang đo sơ bộ làm cơ sở xây dựng bảng câu hỏi chính thức để tiến hành phỏng vấn trên 300 nhân viên tại Eximbank.
Sau khi thực hiện phỏng vấn gồm 10 thành viên đang làm việc tại Eximbank AMC, tác giả đã đưa ra bảng câu hỏi (phụ lục 2). Thực hiện phân tích thông qua phương pháp định lượng với bảng quan sát; lấy mẫu thuận tiện, cỡ mẫu cho nghiên cứu chính thức được thu thập trực tiếp từ 300 nhân viên. Dữ liệu sau khi thu thập tác giả đưa dữ liệu vào phần mềm SPSS để xử lý. Chương tiếp theo sẽ trình bày sơ lược về tình hình hoạt động xử lý nợ xấu tại Eximbank AMC trong giai đoạn từ 2016 đến 2018.
12 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI EXIMBANK AMC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ GẶP PHẢI 2. Tóm tắt lý thuyết liên quan 2. Định nghĩa về nợ xấu Một khoản nợ xấu có thể được hiểu là một khoản vay mà chủ nợ thấy khó khăn hoặc không thể thu hồi được. Đối với các ngân hàng, nợ xấu đề cập đến một lượng tiền được trao cho người vay, thường là các công ty, rất khó thu hồi vì nhiều lý do, bao gồm tổn thất kinh doanh hoặc phá sản.
Mặc dù không có định nghĩa cụ thể về nợ xấu, nhưng có thể khái quát như sau: một khoản nợ xảy ra khi một công ty tin rằng con nợ không thể hoặc không muốn trả và doanh nghiệp sẽ không bao giờ có thể lấy lại được số tiền đã nợ (John và Aisling, 2005). Nói về nợ xấu, chúng ta thực sự đang nói về các khoản nợ nghi ngờ, hoặc những trường hợp trong đó một ngân hàng tin rằng khả năng con nợ trả nợ sẽ giảm, vì nhiều lý do. Nó chủ yếu dựa trên hai nguyên tắc kế toán được chấp nhận. Đầu tiên là nguyên tắc phù hợp, trong đó doanh thu được ghi nhận khi kiếm được và không nhận được, và chi phí được ghi nhận khi phát sinh, không được thanh toán.
Phương pháp ghi này khớp với thu nhập với khoảng thời gian mà nó được tạo ra mà không phụ thuộc vào thời gian thực tế của dòng tiền. Thứ hai là nguyên tắc khách quan, nói rằng giá trị của các khoản mục trong bảng cân đối kế toán như các khoản phải thu sẽ phản ánh giá trị có thể thực hiện được của chúng (Prosser, 2003). Nợ nghi ngờ Như đã thấy trước đó, nợ xấu là tình huống mà một công ty tin rằng con nợ không thể hoặc không muốn trả và doanh nghiệp sẽ không bao giờ có thể lấy lại được số tiền còn nợ (John và Aisling, 2005). Do đó, đây là một khoản nợ không thể thu được.
Nợ xấu là mục tiêu khách quan, mặt khác Nợ nghi ngờ là chủ quan. Nợ nghi ngờ là nơi mà trong suy đoán của một ngân hàng nghĩ rằng khách hàng có thể không thể giải quyết được khoản nợ của mình. Các khoản nợ xấu và nghi ngờ có chung nhiều đặc điểm, sự khác biệt thực sự duy nhất là mức độ thu hồi của chúng. Theo Prosser (2003), quy tắc chung là mọi khoản nợ lớn hơn 6 tháng phải được coi là một khoản nợ xấu, mặc dù khoản nợ có 13 thể trở thành nợ xấu bất cứ lúc nào trong vòng đời tùy thuộc vào hoàn cảnh, trong khi các khoản nợ có thể được phân loại đáng ngờ khi một khoản nợ có độ tuổi từ 90 ngày trở lên.
Ngoài ra, nợ xấu nói chung là kết quả của bằng chứng khách quan, tức là khi có bằng chứng hoặc lời khuyên từ một bên thứ ba độc lập liên quan đến khoản nợ khó kiểm soát, trong khi các khoản nợ nghi ngờ dựa trên các ước tính chủ quan. Hệ lụy của nợ xấu trong các tổ chức ngân hàng Thu nhập lãi được tạo ra từ các cơ sở tín dụng (khoản vay) đóng góp đáng kể vào lợi nhuận và hiệu suất của các tổ chức ngân hàng. Tuy nhiên, khi các cơ sở tín dụng này trở nên chậm trễ, nó có ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến hiệu quả và hiệu suất của tổ chức ngân hàng. Một trong những lý do là các tổ chức cho vay phải trích lập dự phòng và tính phí tổn thất tín dụng (nợ xấu) cuối cùng làm giảm mức lợi nhuận.
Một lần nữa, xóa nợ xấu có xu hướng làm suy yếu khả năng của các ngân hàng để cấp thêm tín dụng cho các khách hàng khác. Điều này là do các khoản tiền cho vay có xu hướng cạn kiệt khi trả nợ chậm trễ hoặc thất bại. Một hệ lụy quan trọng khác của nợ xấu là sự mất niềm tin từ phía người gửi tiền và nhà đầu tư dẫn đến thách thức thanh khoản có xu hướng làm suy yếu sự tăng trưởng khi lợi nhuận được đầu tư lại vào doanh nghiệp để tăng trưởng cơ sở vốn bị giảm do dự phòng rủi ro tín dụng. Cổ tức thanh toán cũng bị ảnh hưởng tiêu cực như nhau bởi vì các khoản dự phòng cho nợ xấu được khấu trừ trước khi cổ tức được tuyên bố 2.
Xử lý nợ xấu Xử lý nợ xấu được coi là phần trung tâm trong hoạt động quản lý nợ xấu. Nợ xấu một khi đã phát sinh phải được chuyển ngay sang bộ phận xử lý thu hồi nợ để xử lý. Các cách để xử lý nợ xấu được áp dụng cụ thể như sau: Trách nhiệm của cán bộ tín dụng Khi một khoản nợ phát sinh do nguyên nhân chủ quan của cán bộ tín dụng thì cán bộ tín dụng đó phải có trách nhiệm thực hiện công việc đòi nợ cho ngân hàng. Nếu không thể đòi được nợ thì cán bộ tín dụng sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm với khoản nợ đó.
Ngân hàng phải có các biện pháp chế tài đối với các cán bộ tín dụng gây ra nợ xấu như bồi thường thiệt hại, kỹ luật, khiển trách thậm chí nếu gây thiệt 14 hại nặng thì bị cho thôi việc hoặc chuyển sang tố tụng. Những biện pháp chế tài vừa mang tính răng đe vừa có tác dụng giáo dục cho cán bộ phải có làm việc có trách nhiệm với bản thân và với ngân hàng. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả thu hồi nợ thì ngân hàng có thể áp công việc thu hồi nợ đi đôi với việc cấp tín dụng vào cán bộ tín dụng cùng với quy chế thưởng phạt để tăng động lực và trách nhiệm cho cán bộ tín dụng. Thực hiện cơ cấu lại nợ Điều chỉnh kỳ hạn nợ: Hoãn thời gian thanh toán nợ gốc hoặc giảm khối lượng nợ gốc phải trả trong kỳ thanh toán đó, tuy nhiên tổng nợ gốc của khoản vay sẽ không được giảm, khách hàng phải thanh toán phần còn lại của nợ gốc vào các kỳ tiếp theo.
Biện pháp này được áp dụng đi kèm với cam kết phải thanh toán của khách hàng. Gia hạn nợ: Ngân hàng sẽ gia tăng thời gian của khoản vay lên ngoài thời hạn của khoản vây. Phương pháp đôi bên cùng có lợi này được dùng để giúp ngân hàng có thể thu nợ và khách hàng giảm bớt được áp lực trả nợ và chú tâm vào việc kinh doanh. Ngoài ra cấp thêm hạn mức tín dụng cũng có thể được áp dụng đi kèm để khách hàng có thêm vốn đưa vào kinh doanh để tạo lợi nhuận.
Biện pháp này có rủi ro khá cao nếu khách hàng không có thiện chí trả nợ hoặc tiếp tục làm ăn không hiệu quả. Miễn giảm lãi vay: Tùy thuộc vào thiện chí trả nợ của khách hàng mà biện pháp này được áp dụng. Việc miễn giảm lãi phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật, NHNN và quy định nội bộ ngân hàng. Với mục tiêu là thu hồi lại được nợ gốc thì ngân hàng sẽ phải hi sinh doanh thu từ lãi vay khi áp dụng biện pháp này.
Tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp: Khi các doanh nghiệp đi vay phát sinh nợ xấu thì tùy thuộc vào tình hình hoạt động kinh doanh sản xuất, tài chính nếu doanh nghiệp gặp khó khăn nhưng vẫn có cơ hội để phục hồi thì biện pháp này sẽ được ngân hàng áp dụng. Xử lý tài sản bảo đảm: Khi các khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng chây ỳ không chịu trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ được nữa ngân hàng sẽ tiến hành các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm. Xử lý tài sản đảm bảo khoản vay: Khi thực hiện một hợp đồng tín dụng, hầu hết các khoản vay đều phải có tài sản đảm bảo nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng trong trường hợp khách hàng không 15 trả được nợ. Như vậy, ngân hàng được quyền xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp khoản vay không được thanh toán đầy đủ: ngân hàng và chủ tài sản tự bán tài sản, bán qua trung tâm đấu giá, ngân hàng nhận chính tài sản để cấn trừ nợ….
Yêu cầu thanh toán đối với bên bảo lãnh: trong trường hợp đến hạn thanh toán mà khách hàng vẫn không trả được nợ thì ngân hàng có quyền truy đòi người bảo lãnh của người cho vay trực tiếp. Việc phát mại tài sản thường rất phức tạp cần đến sự can thiệp của nhiều cơ quan chức năng với rất nhiều thủ tục và mất nhiều thời gian. Bán các khoản nợ: Việc chuyển giao một khoản nợ cho các công ty mua bán nợ không chỉ giúp ngân hàng thu hồi lại vốn của mình mà còn giúp ngân hàng giảm tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Để thực hiện nhiệm vụ này, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC - Asset Management Company) được ngân hàng thành lập.
Các khoản nợ sẽ được công ty tiếp nhận và thực hiện các biện pháp xử lý nợ. Các công ty này không chỉ giải quyết các khoản nợ của ngân hàng mà nó trực thuộc, nó còn tiếp nhận giải quyết các khoản nợ thuộc các doanh nghiệp khác có nợ xấu, giúp cho nguồn vốn trong nền kinh tế lưu thông trôi chảy hơn. Tại Việt Nam, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã được NHNN thành lập vàmỗi một NHTM đều có một công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản để xử lý nợ xấu, mua lại các khoản nợ các NHTM trong hệ thống ngân hàng.