Đặt vấn đề Rừng là nguồn tài nguyên quý giá và có thể tái tạo đƣợc ban tặng cho mọi sinh vật trên trái đất. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con ngƣời cũng nhƣ môi trƣờng: Cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nƣớc, là nơi cƣ trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con ngƣời. Mối quan hệ của rừng và cuộc sống đã trở thành một mối quan hệ hữu cơ. Không có một dân tộc, một quốc gia nào không biết rõ vai trò quan trọng của rừng trong cuộc sống.
Tuy nhiên, ngày nay, nhiều nơi con ngƣời đã không bảo vệ đƣợc rừng, còn chặt phá bừa bãi làm cho tài nguyên rừng khó đƣợc phục hồi và ngày càng bị cạn kiệt, nhiều nơi rừng không còn có thể tái sinh, đất trở thành đồi trọc, sa mạc, nƣớc mƣa tạo thành những dòng lũ rửa trôi chất dinh dƣỡng, gây lũ lụt, sạt lở cho vùng đồng bằng gây thiệt hại nhiều về tài sản, tính mạng ngƣời dân. Vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi trƣờng đang trở thành vấn đề thời sự và lôi quấn sự quan tâm của toàn thế giới. Bộ NN& PTNT công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2016. Theo đó, tính đến ngày 31/12/2016, diện tích rừng toàn quốc hiện có 14.682 ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.141 ha và rừng trồng là 4.
Diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ toàn quốc là 13.934 ha, độ che phủ tƣơng ứng là 41,19% (theo Quyết định số 1819/QĐ-BNN - TCLN công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2016). Ở nƣớc ta keo đƣợc trồng ở hầu hết các tỉnh từ Miền Bắc, Miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ với mục đích chủ yếu làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy. Keo đƣợc coi là cây trồng chủ lực ở nhiều nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam. Keo là nguồn nguyên liệu có tầm quan trọng đối với sự phát triển h 2 kinh tế xã hội và môi trƣờng.
Ở nƣớc ta Keo đƣợc trồng rất phổ biến, diện tích rừng trồng các loại Keo ở nƣớc ta hiện nay khoảng 900.000 hecta, cung cấp 90% trong tổng số 5,4 triệu tấn gỗ dăm xuất khẩu, trị giá khoảng triệu USD, trong đó 300 triệu USD là lợi nhuận của ngƣời trồng rừng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [8]. Tuy nhiên gần đây tại một số vùng trồng keo trọng điểm trên đã xuất hiện những cây keo bị chết héo từ trên ngọn xuống hay còn gọi là hiện tƣợng cây chết ngƣợc, bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu. Các mẫu bệnh đã đƣợc phòng Bảo vệ rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp giám định nguyên nhân là do loài nấm Ceratocystis sp. Với điều kiện khí hậu nóng ẩm của nƣớc ta tạo điều kiện cho nhiều loài nấm phát triển đặc biệt là Ceratocystis sp.
đã bắt đầu xuất hiện trên cây keo tại một số nơi nhƣ Đồng Nai, Bình Dƣơng, Bình Phƣớc, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh. Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, chỉ sau một thời gian ngắn là chết ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng rừng trồng keo. Việc nghiên cứu và phát hiện sớm bệnh ở một số vùng trồng keo trọng điểm nƣớc ta là rất quan trọng nhằm lập kết hoạch ngăn chặn bệnh dịch phát triển và lan rộng giảm nguy cơ thiệt hại về kinh tế và môi trƣờng. Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng theo cấp tuổi do nấm Ceratocystis sp.
gây ra tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Đánh giá tình hình bệnh hại keo tai tƣợng theo độ tuổi do nấm Ceratocysti sp. gây ra ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc tỷ lệ và mức độ bệnh hại do nấm Ceratocystis sp.
- Đề xuất đƣợc một số giải pháp hạn chế mức độ phát triển của bệnh. Ý nghĩa việc thực hiện đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Củng cố kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn. h 3 - Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp phòng trừ bệnh chết héo trên cây Keo tai tƣợng theo các cấp tuổi.
- Sau khi thực hiện đề tài sinh viên có khả năng lên kế hoạch nghiên cứu hợp lý, biết tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả cũng nhƣ viết một báo cáo nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa trong thực tiễn - Qua quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế và khoa học. - Qua những đánh giá cụ thể về bệnh hại có thể tìm ra đƣợc các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hƣởng tiêu cực của bệnh hại đến sản xuất trong lâm nghiệp. - Làm cơ sở và tài lệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan.
h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng Keo tai tƣợng có nguồn gốc từ Australia, Papua Guinea và Indonesia, có sức sinh trƣởng nhanh trên nhiều điều kiện lập địa khác nhau. Do Keo tai tƣợng đóng một vai trò quan trọng trong trồng rừng nên đã có nhiều nghiên cứu về loài cây này, bao gồm các nghiên cứu về đặc điểm sinh học đến kỹ thuật gây trồng cũng nhƣ khả năng sử dụng.
Keo tai tƣợng là loài cây mọc nhanh có biên độ sinh thái khá rộng. Keo tai tƣợng rất kén đất đòi hỏi đất phải tốt và sâu ẩm. Là cây họ đậu nên Keo tai tƣợng không chỉ là cây kinh tế mà còn là cây che phủ cải tạo đất và cải thiện điều kiện môi trƣờng, ngày nay loài cây này đang đƣợc mở rộng ở nhiều nƣớc, điển hình nhƣ Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan, Ấn Độ, Nigiêria, Tanzania, Băng-la-đét, Trung Quốc, Mỹ. Ngay cả Papua Niu Ghine, nơi có Keo tai tƣợng phân bố tự nhiên ở phía Đông và phía Nam cũng đã tiến hành dẫn giống lên phía Bắc để phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo đất thoái hóa sau nƣơng rẫy.
Keo tai tƣợng đƣợc đƣa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm 1960, tới năm 1997 có khoảng 200.000 ha keo đƣợc trồng ở phía Nam Trung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam, tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20. Cho đến năm 2008 có 179 xuất xứ và 469 gia đình thuộc 21 loài keo đƣợc khảo nghiệm ở miền Nam Trung Quốc với tổng diện tích là 130 ha, Keo tai tƣợng là một trong ba loài keo đã đƣợc đƣa vào trồng rừng trên diện rộng nhằm cung cấp gỗ. Chi Keo là một chi của một số loài cây thân bụi và thân gỗ có nguồn gốc tại đại lục cổ Gondwana, thuộc về phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) thuộc họ Đậu (Fabaceae), lần đầu tiên đƣợc Linnaeus miêu tả năm 1773 tại châu Phi. Hiện nay, ngƣời ta biết khoảng 1.300 loài cây keo trên toàn thế giới, trong đó khoảng 950 h 5 loài có nguồn gốc ở Australia, và phần còn lại phổ biến trong các khu vực khô của vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm ở cả hai bán cầu, bao gồm châu Phi, miền nam châu Á, Châu Mỹ.
Tuy nhiên, chi Acacia dƣờng nhƣ là không đơn ngành (Công ty Lâm nông nghiệp Đông Bắc, 2013) [2]. Diện tích trồng keo tính đến nay theo số liệu tổng hợp từ các công văn của 42 tỉnh trên cả nƣớc là hơn 990 nghìn ha, dẫn đầu về diện tích trong các loài cây đƣợc chọn trong trồng rừng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [8]. Keo là loài cây đƣợc ƣu tiên lựa chọn bởi nhiều đặc tính vƣợt trội nhƣ sinh trƣởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, cải thiện đƣợc tính chất của đất. Đặc biệt gỗ keo rất phù hợp cho sản xuất nguyên liệu giấy, ván nhân tạo, sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu.
Ở nƣớc ta keo đƣợc trồng ở hầu hết các tỉnh từ Miền Bắc, Miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ với mục đích chủ yếu làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy. Tuy nhiên gần đây tại một số vùng trồng keo trọng điểm trên cả nƣớc đã xuất hiện nhƣng cây keo bị chết héo từ trên ngọn xuống hay còn gọi là hiện tƣợng cây chết ngƣợc, bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu. Các mẫu bệnh đã đƣợc phòng Bảo vệ rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp giám định nguyên nhân là do loài nấm Ceratocystis sp gây ra (Phạm Quang Thu, 2011) [12]. Ở Inđônêxia Keo tai tƣợng cũng đƣợc trồng từ những năm 1940.
Ở Thái Lan, Keo tai tƣợng đã đƣợc đƣa vào trồng từ năm 1935, nhƣng mãi đến năm 1964 trở lại đây mới đƣợc phát triển mạnh. Năm 1961, Trung Quốc đã nhập khoảng 50 loài từ Ôxtrâylia vào trồng thử nghiệm, song chỉ có một số loài có triển vọng và đƣợc gây trồng trên diện rộng, trong đó có Keo tai tƣợng tình hình sinh trƣởng của Keo tai tƣợng trên các địa điểm của mỗi nƣớc cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu cụ thể nơi gây trồng. Nhƣng nhìn chung ở những nơi có lƣợng mƣa trên 2000 mm, đất giàu dinh dƣỡng thì khả năng sinh trƣởng khá nhanh, trung bình chiều cao có thể đạt trên 2,5 m/năm. Việc trồng Keo tai tƣợng trên quy mô h 6 công nghiệp đã đƣợc triển khai ở Inđônêxia từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000 ha rừng trồng Keo tai tƣợng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ (Công ty Lâm nông nghiệp Đông Bắc, 2013) [2].
Nghiên cứu về bệnh hại Keo Bệnh cây rừng đã đƣợc bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học có nhiều cống hiến cho công tác nghiên cứu, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn. Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà nghiên cứu bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh. Đặc biệt ở các nƣớc nhiệt đới, Roger L. Trong đó có một số bệnh hại lá của thông, keo, bạch đàn … John Boyce (1961) xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology) đã mô tả một số bệnh hại cây rừng.
Cuốn sách này đƣợc xuất bản ở nhiều nƣớc nhƣ: Anh, Mỹ, Canada.