MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Lúa là cây lƣơng thực quan trọng trên thế giới, đặc biệt ở các nƣớc châu Á. Có tới 40% dân số coi lúa gạo là nguồn lƣơng thực chính chủ yếu ở các nƣớc châu Á, châu Phi , châu Mĩ La Tinh. Đối với một số quốc gia nhƣ Việt Nam và Thái Lan thì lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp lâu đời với trên 75% dân số sống phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, 80% nông dân nông thôn sống phụ thuộc vào cây lúa và 100% ngƣời Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lƣơng thực chính.
Tính đến năm 2014, diện tích đất trồng lúa ở nƣớc ta là 7,8 triệu ha chiếm 80% diện tích trồng cây lƣơng thực, tổng sản lƣợng lúa đạt 44,84 triệu tấn, năng suất trung bình đạt 57,4 tạ/ha (Tổng cục thống kê, 2014). Xuất khẩu gạo năm 2014 đạt gần 6,38 triệu tấn, trị giá 2,96 tỷ USD, và đứng thứ 3 trên thế giới sau Ấn Độ, Thái Lan (Báo ngƣời đồng hành,2014). Huyện Phú Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 25.221 ha, trong đó đất nông nghiệp có 21.186 ha (chiếm 84%), trong đó đất sản xuất nông nghiệp 15. Điều đó chứng tỏ nông nghiệp vẫn giữ vị trí hàng đầu trong kinh tế của huyện.
Về cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp năm 2015, trong tổng số15. Nhƣ vậy mặc dù là một huyện trung du nhƣng cây trồng chủ đạo của Phú Bình vẫn là cây lúa (Chi cục Thống kê huyện Phú Bình, 2017). Trong những yếu tố kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng thì mật độ có ảnh hƣởng rất lớn. Việc cấy đúng mật độ sẽ tạo điều kiện tối ƣu cho sinh trƣởng, phát triển và cho năng suất cao.
Mật độ thƣa làm lãng phí đất, giảm c 2 năng suất. Nhƣng nếu trồng quá dày vừa lãng phí giống, giảm số hạt/bông, giảm kích thƣớc và khối lƣợng hạt. Mật độ quá dày thì sâu bệnh phát triển mạnh. Vì vậy xác định mật độ trồng thích hợp với từng giống lúa sao cho vừa tiết kiệm đƣợc hạt giống vừa tận dụng đƣợc đất trồng đồng thời cho năng suất cao là hết sức cần thiết.
Ngƣời dân thƣờng sử dụng các giống truyền thống nhƣ: giống lúa U, Khang dân… cho năng suất lúa không cao, chất lƣợng thấp.Huyện Phú Bình đang có chủ trƣơng nâng cao giá trị của sản xuất lúa nên giống lúa thơm Basmati đƣợc đƣa về là giống lúa có năng suất, chất lƣợng cao, luôn đƣợc ngƣời tiêu dùng ƣa chuộng nên nhu cầu thị trƣờng lớn. Giá gạo Basmati hiện nay trên thị trƣờng là 75.000 đồng/kg, cao gấp 7,7 lần so với giá bán gạo Khang dân (9. Lúa Basmati có sức sinh trƣởng khỏe, bộ rễ phát triển mạnh, đẻ nhánh sớm và nhanh nên không thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật cũng nhƣ mật độ cấy nhƣ các giống lúa thuần. Vì vậy xác định mật độ cấy cho giống lúa mới này là việc cần thiết phải nghiên cứu và áp dụng để làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng và phát triển củagiống lúa Basmati trong vụ Mùa 2016 tại Phú Bình“ 1.Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Xác định đƣợc mật độ phù hợp cho giống lúa Basmati tại huyện Phú Bình để cây lúa sinh trƣởng phát triển tốt và cho năng suất cao. Yêu cầu - Theo dõi ảnh hƣởng của mật độ cấy đến sinh trƣởng của giống lúa Basmati. c 3 - Theo dõi ảnh hƣởng của mật độ cấy đến một số đặc điểm sinh lý của giống lúa Basmati.
- Theo dõi mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống lúa Basmati. - Theo dõi ảnh hƣởng của mật độ cấy đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Basmati. c 4 PHẦN2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở xác định mật độ gieo cấy Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào đặc điểm của giống lúa định gieo cấy: Giống lúa chịu thâm canh càng cao, tiềm năng năng suất lớn mật độ gieo cấy càng dày và ngƣợc lại, giống lúa chịu thâm canh thấp mật độ gieo cấy thƣa hơn.
Ví dụ mật độ gieo cấy giống lúa lai CV1 chịu thâm canh cao, tiềm năng năng suất lớn sẽ cao hơn mật độ gieo cấy các giống lúa nếp chịu thâm canh kém, tiềm năng năng suất trung bình. Nhữnggiống lúa có bộ lá gọn, góc lá nhỏ, thế lá đứng gieo cấy mật độ dày hơn những giống lúa có phiến lá to, góc lá lớn. Ví dụ giống lúa Bao thai lùn có lá nhỏ, thế lá đứng nên mật độ cấy sẽ dày hơn giống lúa Nếp cái hoa vàng có phiến lá to. Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào độ phì của đất, khả năng thâm canh của hộ nông dân, tuổi mạ, thời tiết.
Cấy trên đất tốt, khả năng thâm canh cao thì mật độ gieo cấy thƣa hơn loại đất xấu, khả năng thâm canh thấp, mạ non có khả năng đẻ nhánh cao thì cấy thƣa, ít dảnh còn mạ già khả năng đẻ nhánh kém thì cấy dày hơn và nhiều dảnh hơn. Vụ mùa, thời tiết nắng nóng cây lúa sinh trƣởng nhanh, đẻ nhánh sớm, đẻ nhiều cấy thƣa hơn vụ đông xuân nhiệt độ thấp, cây lúa lâu đẻ, đẻ kém thì cấy dày hơn. Mật độ cấy thích hợp sẽ đóng vai trò quan trọng đặc biệt để ruộng lúa đạt năng suất cao, ít nhiễm sâu bệnh và chống đổ tốt.Các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan mật thiết với nhau. Số bông/m2 phụ thuộc vào tỉ lệ đẻ nhánh và mật độ cấy.
Khi cây đẻ nhánh mạnh thì số bông tăng. Khi số bông/m2 tăng quá cao thì bông lúa bé đi, số hạt/bông giảm, tỷ lệ hạt c 5 chắc/bông và khối lƣợng hạt cũng giảm. Để đạt năng suất cao cần điều khiển cho lúa có số bông tối ƣu, đảm bảo số hạt/bông nhiều, tỷ lệ hạt chắc cao và khối lƣợng của hạt lớn (Nguyễn Văn Hoan, 2006).Đặc điểm sinh trưởng của cây lúa Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực Đông Nam Á và châu Phi. Các giống lúa Việt Nam có những đặc điểm nhƣ chiều cao cây, thời gian sinh trƣởng (dài hay ngắn), chịu thâm canh, chịu mặn, chống chịu sâu bệnh.
Song cây lúa đều có những đặc tính chung về hình thái, giải phẫu và đều có chung các bộ phận: rễ, thân, lá, bông, hạt. Rễ lúa thuộc bộ rễ chùm, những rễ non có màu trắng sữa, rễ trƣởng thành có màu vàng nâu và nâu đậm, rễ đã già có màu đen. Ở thời kỳ mạ nếu gieo thƣa, rễ mạ có thể dài 5–6 cm; tiêu chuẩn của mạ tốt là bộ rễ ngắn và nhiều rễ trắng. Thời kỳ sau cấy bộ rễ tăng dần về số lƣợng và chiều dài ở thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng.
Thời kỳ trỗ bông bộ rễ đạt giá trị tối đa, số lƣợng rễ có thể đạt tới 500–800 cái. Trên đồng ruộng phạm vi ra rễ chỉ ở gần lớp đất mặt (0-20 cm là chính). Khi mật độ cấy thấp thì phạm vi hoạt động của bộ rễ lúa rộng hơn so với khi cấy ở mật độ cao, từ đó bộ rễ phát triển mạnh, cƣờng dộ hút chất dinh dƣỡng để nuôi cây cao hơn. Để tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt cần làm cỏ sục bùn, điều chỉnh mực nƣớc hợp lý, tạo điều kiện cho tầng đất vùng rễ thông thoáng, bộ rễ phát triển mạnh, cây lúa sinh trƣởng tốt, chống chịu đƣợc sâu bệnh cho năng suất cao.
Đẻ nhánh là đặc tính sinh học của cây lúa, nó liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành số bông và năng suất sau này. Cây lúa có khả năng tự điều chỉnh số nhánh nên cần điều chọn mật độ cấy phù hợp để cây lúa có tỉ lệ nhánh hữu hiệu cao nhất. Số nhánh đẻ có ý nghĩa rất lớn đến năng suất. Trƣớc đây ngƣời ta cho rằng số nhánh đẻ cao thì số bông sẽ nhiều và năng suất sẽ cao nhƣng trong thực tiễn nếu đẻ nhánh nhiều, đẻ lai rai kéo dài làm tiêu hao c 6 một lƣợng dinh dƣỡng khá lớn, mặt khác đẻ nhánh nhiều làm cho quần thể rậm rạp là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển.
Vì vậy xu hƣớng hiện nay là chọn những giống có khả năng đẻ nhánh trung bình, đẻ sớm, đẻ tập trung, chất lƣợng đẻ nhánh cao bông to và nặng, điều đó liên quan tới nhánh đẻ hữu hiệu.Những nhánh lúa đƣợc hình thành từ các mắt trên thân cây mẹ tại đốt của thân. Khi cây lúa ra đƣợc 4 lá thật đều có khả năng đẻ nhánh và cứ ra đƣợc một lá thì lại đẻ thêm một nhánh. Thời kỳ đầu nhánh sống phụ thuộc vào cây mẹ, khi có hơn 10 rễ và 4 lá xanh thì có thể tự hút dinh dƣỡng , quang hợp và có thể tách ra sống độc lập.Những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số lá nhiều, điều kiện dinh dƣỡng thuận lợi mới có điều kiện phát triển đầy đủ để trở thành bông. Còn những nhánh đẻ muộn, thời gian sinh trƣởng ngắn, số lá ít thƣờng trở thành nhánh vô hiệu.
Mật độ cấy, tuổi mạ, kỹ thuật chăm sóc… sẽ có tác động rất lớn tới tỷ lệ nhánh hữu hiệu. Việc xác định mật độ cấy để quần thể ruộng lúa đẻ tập trung và có số nhánh hữu hiệu hợp lý là rất cần thiết. Lá lúa bao gồm bẹ lá, phiến lá, thìa lá, tai lá. Số lá trên cây phụ thuộc chủ yếu vào giống, thời vụ cấy, biện pháp bón phân và quá trình chăm sóc.
Tùy theo góc lá rộng hay hẹp mà lựa chọn mật độ cấy cho phù hợp, nếu góc lá hẹp thì chọn mật độ dày, ngƣợc lại nếu góc lá lớn thì phải chọn mật độ thƣa hơn. Vì lá là cơ quan quang hợp chủ yếu, Nisiporovich đã chứng minh rằng 90-95% chất khô tích lũy trong đời sống cây trồng đƣợc tạo ra do quang hợp. Trong đó diện tích lá là một yếu tố ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất sinh vật học cũng nhƣ năng suất thực thu của cây trồng. Những ruộng lúa đạt năng suất cao, thƣờng có khả năng duy trì chỉ số diện tích lá trong 1 khoảng thời gian tƣơng đối dài.
Dựa vào chỉ số diện tích lá ta có thể điều chỉnh cho quần thể ruộng lúa có bộ lá phát triển thích hợp nhất. Chỉ số diện tích lá là một chỉ tiêu sinh lý quan trọng để đánh giá khả năng quang hợp trong quần thể ruộng lúa.