CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN ĐỊNH LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra biến cố khách hàng không hoàn trả đúng hạn, không hoàn trả lãi và gốc của khoản tín dụng cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra, nguy cơ mất vốn rất lớn và tác động nghiêm trọng đến năng lực thanh khoản của NHTM (Nguyễn Thị Phương Liên, 2008,Giáo trình Quản trị tác nghiệp Ngân Hàng Thương Mại, NXB Thống Kê – Đại Học Thương Mại). Rủi ro tín dụng là những tổn thất do khách hàng vay không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của khoản vay ( Theo Joel Bessis – Rick Management in Banking).2 Phân loại rủi ro tín dụng Tùy theo phân loại mà người ta chia RRTD ra thành các loại khách nhau. Tuy nhiên căn cứ nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành các loại sau đây: Rủi ro tín dụng Rủi ro danh Rủi ro giao dịch mục Rủi ro tập Rủi ro lựa Rủi ro đảm Rủi ro Rủi ro nội trung chọn bảo nghiệp vụ tại Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 *Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch gồm: Rủi ro lựa chọn: Rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng. Rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo… Rủi ro nghiệp vụ: Rủi ro liên quan đến công tác công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. * Rủi ro danh mục: là RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quỹ quản lý danh mục cho vay ngân hàng, được phân loai thành nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính chất riêng biệt biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc nghành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn, lĩnh vực kinh tế. Rủi ro tập trung: Rủi ro ngân hàng hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một nghành kinh tế hoặc trong cùng một khu vực địa lý hoặc một loại hình cho vay rủi ro cao.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng trong các NHTM nói chung thường xảy ra dưới hình thức khác nhau, song tổ hợp lại, các rủi ro đó thường xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau: *Nguyên nhân khách quan Sự biến động thay đổi môi trường kinh tế, chính tri. vĩ mô ảnh hưởng tới hoạt động sản xuât kinh doanh của khách hàng mà khách hàng không cần điều kiện, không thể kháng cự lai dẫn đến hiệu quả sản suất kinh doanh giảm sút, giảm khả năng trả nợ của ngân hàng. - Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Rủi ro do môi trường pháp lý không thuận lợi. - Rủi ro nguyên nhân bất khả kháng như: thiên tai, dịch, hỏa hoạn, lũ lụt… Tất cả những nguyên nhân khách quan trên đều ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng có thể hạn chế được tổn thất thông qua dự báo, và có biện pháp phòng ngừa kịp thời, tránh gây ảnh hưởng tiêu cực mới môi trường kinh doanh. *Nguyên nhân chủ quan Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng cho vay: Rủi ro do khách hàng gây nên có thể có trình độ yếu kém của ngươi đi vay trong công tác quản lý doanh nghiệp, dự đoán sai các vấn đề thị trường, chủ định lừa đảo ngân hàng, cố tình không thực hiên cam kết trong HĐTD… Có thể phẩn thành hai loại sau: -Rủi ro của người đi vay: Đây là lọa rủi ro lớn và thường gặp nhất trong tín dụng hiện nay, là một vấn đề do thông tín không cân xứng được tạo ra. Khách hàng cố tình cung cấp thông tin sai sự thật về năng lực khách hàng, sử dụng tiền vay sai mục đích, hồ sơ giả mạo, hoặc hoạt động kinh doanh có lãi nhưng không muốn trả nợ, cố tỉnh không thực hiện cam kết về việc trả nợ thoe HĐTD… -Rủi ro do năng lực người vay: Rủi ro này do năng lực của người đi vay kém, không đủ khả năng điều hành, quản trị không phân tích đúng đắn thị trường đầu tư sai hướng… dẫn đến kết quả sản suất kinh doanh không như mong muốn, khách hàng không đủ khả năng trả nợ tới hạn.
*Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay: -Ngân hàng không chấp hành nghiêm túc về chế độ, quy trình tín dụng và bỏ sót các quy trình cho vay… Các chế độ, chính sách, quy trình tín dụng còn lỏng lẻo và không cụ thể dẫn tới việc áp dụng chung vào trong thực tế chưa phát huy được hiệu quả, chưa chính xác. -Thông tin về khách hàng không đầy đủ hoặc không đúng so với thực tê dẫn tới quyết định cấp tín dụng của ngân hàng chứa nhiều rủi ro. -Các bộ ngân hàng thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, công tác giảm sát và quản lý sau khi cho vay còn nhiều hạn chế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 -Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả.
*Rủi ro bên đảm bảo tín dụng: Cố tình không thực hiện các thủ tục thanh toán cho ngươi được đảm bảo và viện dẫn các nguyên nhân như biến động của giá cả thị trường hay sự hao mòn trong quá ngươi vay sử dụng TSĐB mà giá trị của TSĐB bị giảm gây khó khăn khi xử lý tài sản. Như vậy nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng, cả những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, cả những nguyên nhân kiểm soát được và khó kiểm soát được. Vì vậy mỗi ngân hàng cần có nhưng biện phát nhằm loại trừ được những nguyên nhân chủ quan và hạn chế tới mức thấp nhất những nguyên nhân khách quan.2 Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM.1 Quản trị rủi ro tín dụng của NHTM Với quan điểm quản trị rủi ro tổ chức(ORM), QTRRTD là quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong hoạt động tín dụng, từ đó tăng doanh thu giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM. Theo giáo trình “ Quản trị rủi ro tài chính’’ của tác giả NguyễN Thị Ngọc Trang- Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh thì “ Quản trị rủi ro tín dụng là xác định mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng mong muốn, nhận biết được mức độ rủi ro hiện nay ngân hàng đang gánh chịu và sử dụng các công cụ phái sinh hoặc các công cụ tài chính khác để điều chỉnh mức độ rủi ro mong muốn’’.
Để phục cho việc nghiên cứu, luân văn thống nhất về khái niệm quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ngân hàng thương mại như sau: “ Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay là một quá trình bao gồm soản thảo chiến lược, tổ chức thực hiện kế hoạch, phân nhiệm lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động nhận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dạng, đánh giá rủi ro tín dụng, dự báo tổn thất nợ quá hạn, nơn xấu và tìm ra các biện pháp kiểm soát các hoạt động nhân dạng, đánh giá rủi ro tín dụng, dự báo tổn thất do nợ quá hạn, nợ xấu và tìm ra các biện pháp kiểm soát, tài trợ khắc phục các hậu quả rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại’’. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng Sơ đồ 1.2: Quy trình quản trị tín dụng NHẬN BIẾT RỦI RO TÍN DỤNG ĐO LƯỜNG RỦI RO TÍN DỤNG KIỂM SOÁT VÀ PHÒNG NGỪA RRTD TÀI TRỢ RỦI RO 1.2 Nội dung của công tác quản trị rủi ro của NHTM 1.1 Nhận biết rủi ro tín dụng Là quá trình xác định liên tục và có hệ thống. Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đã và đang xảy ra mà còn dự báo những rủi ro mới có thể xuất hiện đối với ngân hàng. Khi nhận biết rủi ro với một khách hàng, ngân hàng thường dựa vào các nhóm biểu hiện sau: Nhóm 1: Dấu hiện liên quan đến quan hệ với Ngân hàng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Ngân hàng cần xem xét các biểu hiện của doanh nghiệp như không thanh toán, thanh toán chậm hoặc không thanh toán đầy đủ các khoản lãi và nợ gốc khi đến hạn, xin ngân hàng kéo dài kỳ hạn nợ, xin gia hạn nợ, chu kỳ vay thường xuyên gia tăng, có quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng, lập nhiều công ty ma, có hiện tượng lừa đảo nợ từ ngân hàng này sang ngân hàng khác,…. Nhóm 2: Dấu hiệu liên quan đến quản lý và tổ chức của khách hàng. Gồm các biểu hiện như không có sự thống nhất trong hoạt động quản trị hay ban điều hành về quan điểm, mục đích, cách thức quản lý, nội bộ không đoàn kết, có sự mâu thuẫn, tranh giành quyền lực, quản lý nhân sự kém, cơ cấu tổ chức không hợp lý, dùng người không hiệu quả, nhân viên thường xuyên bỏ việc (đặc biệt là ở vị trí cấp cao), phát sinh những khoản chi phí không rõ ràng, không hợp lý, … Nhóm 3: Dấu hiệu về hoạt động SX-KD của doanh nghiệp Biểu hiện của nhóm dấu hiệu này gồm doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp không đạt được như dự kiến về kế hoạch, hệ số vòng quay vốn thấp, khả năng thanh toán giảm, các khoản nợ của doanh nghiêp tăng một cách bất thường,… Nhóm 4: Dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính kế toán.