Mở đầu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí thuyết Luận văn trình bày tổng quan về những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài của Luận văn thông qua việc tổng kết các công trình nghiên cứu đi trước, làm rõ dư địa, vấn đề cần nghiên cứu. Ngoài ra, Luận văn cũng giới thiệu những cơ sở lý thuyết được lựa chọn làm định hướng nghiên cứu cho đề tài như loại từ, hiện tượng chuyển loại, hiện tượng danh hóa và các phương thức danh hóa phổ biến trong tiếng Nhật và tiếng Việt Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Ở chương này, luận văn trình bày các vấn đề có liên quan, phục vụ trực tiếp cho quá trình chọn lọc và xử lý cứ liệu, phương pháp xác lập và lý giải các biểu thức chứa từ ngữ chỉ xuất trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Cụ thể, gồm có phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh đối chiếu. Chương 4: Đặc điểm các phương thức danh hóa trong tiếng Nhật và tiếng Việt Luận văn tập trung thống kê và phân tích đặc điểm các phương thức danh hóa trong tiếng Nhật và tiếng Việt căn cứ trên cứ liệu thu thập được từ các tác phẩm văn học đã khảo sát.
Chương 5: Đối chiếu phương thức danh hóa trong tiếng Nhật và tiếng Việt Thông qua việc so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và dị biệt của từ ngữ 7 chỉ xuất trong tiếng Việt và tiếng Nhật, Luận văn chỉ ra một số vấn đề cách tiếp cận khái niệm và ứng dụng của từ ngữ chỉ xuất trong tiếng Việt và tiếng Nhật trong thực tế giao tiếp, đồng thời đưa ra một số đề xuất trong dạy và học từ ngữ chỉ xuất cho người học hai ngôn ngữ này. Chương 6: Kết luận và kiến nghị 8 Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DANH HÓA ĐỘNG TỪ 2. Tình hình nghiên cứu về danh hóa động từ trong các ngôn ngữ trên thế giới và trong tiếng Nhật Hiện tượng danh hóa được quan tâm nghiên cứu trong nhiều ngôn ngữ, các nghiên cứu này có thể xuất phát từ việc miêu tả, lý giải hiện tượng danh hóa về cấu trúc ngữ pháp, về bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng hay trên các quan điểm ngôn ngữ học tri nhận.
Trong tiếng Anh, hiện tượng danh hóa đã được các nhà ngôn ngữ quan tâm và phân tích, tiêu biểu như Lees (1960), Vendler (1967), Chomsky (1970), Bruce Fraser (1970)… Lees cho rằng đây là hiện tượng phái sinh cú pháp, còn Chomsky lại cho rằng đây là hiện tượng phái sinh từ vựng. Danh hóa được nghiên cứu như một hiện tượng của hình thái học và cú pháp học trong ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh. Theo Vendler (1967), khi nghiên cứu về hiện tượng danh hóa từ động từ, tác giả đã đưa ra bốn kiểu phân loại động từ đó là: trạng thái (states): see, know, believe, have, resemble; hoạt động (activities): recognize, find, lose, reach, die; hoàn thành (achievements): run, swim, push a cart, drive a car; thực hiện (accomplishments): paint a picture, make a chair, push a cart to the supermarket, run a mile. Các nhà ngôn ngữ Nhật như Kageyama (1996) cũng nghiên cứu dựa theo cách phân loại động từ của Vendler.
Trong tiếng Nhật, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định sự tồn tại hiện tượng danh hoá và cho rằng sự danh hoá được thực hiện chủ yếu bằng việc kết hợp động từ, tính từ hay mệnh đề với các yếu tố ngữ pháp chuyên dùng. yếu tố ngữ pháp chuyên dùng này thường được gọi là “yếu tố danh hóa”. Trong đó có nghiên cứu của Ojima (1996), Kamada (1998), Tanaka (1997), Okuda (2011), cụ thể như sau: Ojima (1996) tập trung nghiên cứu sâu hơn về các qui tắc sử dụng yếu tố danh hóa no, koto trong thực tế khách quan và nguyên nhân xuất hiện các qui tắc đó. Ojima chỉ ra rằng trong tiếng Nhật thành phần vị ngữ có vai trò quyết định cho việc dùng 9 yếu tố danh hóa no hay koto.
Nói cách khác, tùy theo đặc điểm của thành phần vị ngữ kết hợp là như thế nào sẽ quyết định việc sử dụng yếu tố danh hóa no hay koto. Trong nghiên cứu này, Kudo (1985) đã đưa ra bảng phân loại nhóm động từ được dùng trong câu có vị ngữ là động từ có sử dụng koto như sau: - Nhóm động từ chỉ các hoạt động liên quan đến tri giác, giác quan: miru (nhìn xem); kiku (nghe). - Nhóm động từ chỉ các hoạt động có tính tác động của con người: suru (làm), shiraberu (điều tra)… - Nhóm động từ liên quan đến hoạt động tư duy của con người: wakaru (hiểu), kangaeru (nghĩ)… - Nhóm động từ biểu thị các hoạt động liên quan đến hoạt động truyền đạt thông tin: iu (nói), shiraseru (thông báo)… - Nhóm động từ thể hiện các hoạt động biểu thị ý chí: kimeru (quyết định)… - Nhóm động từ thể hiện hoạt động tâm lý, yêu ghét… của con người: iyagaru (ghét), aisuru (yêu)… - Nhóm động từ biểu thị sự tồn tại, xuất hiện, tiêu biến: aru, iru (có, ở)… - Nhóm động từ biểu thị sự biến đổi, thay đổi: naru (trở nên), kawaru (thay đổi)… - Nhóm động từ biểu thị hoạt động tri nhận: kiduku (nhận ra)… - Nhóm động từ biểu thị hoạt động đánh giá: odoroku (ngạc nhiên)… - Nhóm động từ biểu thị khả năng: arieru (có thể)… Kamada (1998) chỉ ra các quy tắc trong việc lựa chọn NO, KOTO. Kamada cho rằng việc lựa chọn NO, KOTO dựa theo việc phân loại động từ, chẳng hạn đối với nhóm động từ chỉ các hoạt động liên quan đến tri giác, giác quan sẽ sử dụng yếu tố danh hóa NO, nhóm động từ biểu thị các hoạt động liên quan đến hoạt động truyền đạt thông tin/ nhóm động từ liên quan đến hoạt động tư duy của con người/ nhóm động từ biểu thị hoạt động tri nhận có thể dùng được cả hai yếu tố danh hóa là NO, KOTO.
10 Theo Okuda (2011), danh từ hình thức (yếu tố danh hóa) là một trong những loại danh từ đặc trưng có ý nghĩa mang tính hình hình thức, trừu tượng. Danh từ hình thức không sử dụng độc lập mà được dùng kèm theo bổ ngữ bổ sung ý nghĩa cụ thể cho câu văn. Trong nghiên cứu này, Okuda đã đề cập đến các chức năng biểu hiện của danh từ hình thức NO, KOTO, TOKORO, MONO. Từ nghiên cứu đi trước, có thể nói danh hóa động từ trong tiếng Nhật được biểu thị bằng nhiều phương thức danh hoá khác nhau, nhưng phương thức kết hợp với các yếu tố danh hóa NO, KOTO, TOKORO, MONO là phổ biến trong tiếng Nhật.
Dưới góc độ giáo dục tiếng Nhật, danh hoá động từ bằng yếu tố danh hóa NO, KOTO, TOKORO, MONO thường khiến người học tiếng Nhật gặp khó khăn và nhầm lẫn trong vận dụng để nói hoặc viết. Để giúp cho người học có thể vận dụng hiệu quả các yếu tố danh hoá động từ, đồng thời giảm thiểu những lỗi do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, Trần Thị Minh Phương đã có hai công trình công bố tại Việt Nam gồm: (1) Cách chuyển dịch các yếu tố danh hóa động từ trong tiếng Nhật sang tiếng Việt, 2017; (2) Khảo sát cách dùng của NO, KOTO trong các giáo trình tiếng Nhật sơ cấp – Hướng đến việc biên soạn lại nội dung giáo trình, 2011. Jonson (2007) khẳng định rằng NO và KOTO là một danh từ hình thức, tác giả đã nghiên cứu một cách có hệ thống dưới một góc độ khác so với nghiên cứu trước đây, tác giả tập trung vào chức năng ngữ nghĩa và chức năng cú pháp của hai từ. Dưới góc độ giảng dạy tiếng Nhật, Hidemi (Cách sử dụng koto và no của người học tiếng Nhật, có liên hệ với mono, 2016) chỉ ra rằng trong các sách giáo trình giảng dạy tiếng Nhật sơ cấp và trung cấp ở các nước, NO được biết đến với chức năng là trợ từ nối danh từ với danh từ, là đại từ có chức năng danh hóa cho động từ.
Mặt khác, NO và KOTO còn là biểu thức ngôn ngữ gắn với những mẫu câu cố định. Chẳng hạn, KOTO được dùng cố định trong một cấu trúc ngữ pháp cố định để diễn tả một trải nghiệm (đã từng): Vたことがある(-ta koto ga aru), quyết định: Vるこ とにする (ru koto ni suru), hay MONO được sử dụng trong mẫu câu cố định như hồi tưởng Vたものだ (ta mono da), đương nhiên, thường thức: Vるものだ (ru mono 11 da). No thể hiện tình thái (modality) gồm thái độ, tình cảm của người nói. Trong khi đó, KOTO khi danh hóa sẽ tạo ra biểu thức danh hóa động từ với sắc thái bắt buộc, nghĩa vụ.
Dưới quan điểm hành vi ngôn ngữ, Himeno Masako (2003) đã chỉ ra rằng koto biểu thị chức năng ngôn ngữ hướng đến người nghe như khuyên bảo, hỏi xin ý kiến, … hoặc thể hiện phán đoán, nhận định mang tính giải thích, lý giải, thể hiện chủ ý của người nói gồm khuyến cáo/ bảo ban/ yêu cầu/ ép buộc. Tóm lại, KOTO + da - trợ động từ phán đoán sẽ mang chức năng biểu đạt nhận thức (epistemic modality) và nghĩa vụ (deontic modality). Yoshida (2006) cũng cho rằng KOTO trường hợp này mang ý nghĩa cấm đoán hành động của người nghe, người nghe cảm giác nghĩa vụ phải làm. Tuy nhiên, trên bình diện nghiên cứu so sánh đối chiếu, hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào tiến hành đối chiếu cụ thể hiện tượng danh hóa động từ trong tiếng Việt và tiếng Nhật.
Qua công trình nghiên cứu này, chúng tôi cũng muốn tìm ra những điểm giống và khác nhau của hiện tượng danh hóa, đặc biệt là danh hóa động từ trong cả hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật. Tình hình nghiên cứu về danh hóa động từ trong tiếng Việt Hiện tượng danh hóa được các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam quan tâm khi nghiên cứu ngôn ngữ trên các bình diện cú pháp, ngữ nghĩa, chức năng và đặc biệt là trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Theo nghiên cứu về Động từ tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản (1997), trong tiếng Việt, danh hóa động từ được thực hiện thông qua sự kết hợp giữa yếu tố danh hóa với động từ, hầu hết các yếu tố danh hóa của tiếng Việt còn có thể dùng độc lập như những danh từ khái quát. Vì vậy, việc phân biệt trường hợp sử dụng chúng như một yếu tố danh hóa với trường hợp được dùng như một danh từ khái quát khá là phức tạp.
Trong các ngôn ngữ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa động từ và danh từ là sự chuyển hóa đa dạng và phức tạp nhất. Nhiều nhà ngôn ngữ học khẳng định: danh từ được phát sinh từ các từ loại khác trong đó chủ yếu là động từ.