Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam. Chương 3: Thực trạng khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và một số giải phải nhằm nâng cao khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam. 7 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI Chương 2 trình bày khái niệm về khả năng sinh lời, ý nghĩa của khả năng sinh lời đối với các NHTM Việt Nam vàcác nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng sinh lời. Ngoài ra, ở cuối chương 2 còn trình bày tổng quan về các nghiên cứu thực nghiệm trước đây cũng như phát triển các giả thuyết nghiên cứu cho bài luận văn.1 Tổng quan về khả năng sinh lời 2.1 Khái niệm: “Khả năng sinh lời là nguồn tiền đầu tiên giúp ngân hàng chống lại những khoản lỗ bất ngờ vì khả năng sinh lời giúp tăng cường vị thế vốn và cải thiện khả năng sinh lời trong tương lai thông qua đầu tư từ những khoản lợi nhuận giữ lại” (European Central Bank, 2011) “Khả năng sinh lờilà mục tiêu chính của tất cả các hoạt động kinh doanh.Nếu không có khả năng sinh lời, các hoạt động kinh doanh không thể tồn tại trong thời gian dài.Vì vậy, việc đo lường khả năng sinh lời trong quá khứ, hiện tại và dự đoán khả năng sinh lờitrong tương lai đóng vai trò rất quan trọng” (Don Hofstrand, 2009). “Khả năng sinh lời là khả năng của một sự đầu tư nhất định có thể tạo ra lợi nhuận” (Harward và Upton, 1961) Tuy nhiên, một ngân hàng có khả năng sinh lờicao chưa hẳn đãlà tốt, khi ngân hàng này chấp nhận đánh đổi bằng một cơ cấu tài sản có độ rủi ro cao.
Lợi nhuận của ngân hàng là thước đo tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng lợi nhuận để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng thì chưa đầy đủ. Để đánh giá tốt hơn khả năng sinh lờicần kết hợp đo lường bằng lợi nhuận trên các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như: tổng tài sản, vốn chủ sở hữu… Tỷ số này được gọi là tỷ suất sinh lời. Khả năng sinh lời được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau như tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE),…Tỷ suất 8 sinh lời là tỷ số tài chính phản ánh khả năng sinh lời của một ngân hàng, tỷ suất này thể hiện một đồng tài sản hay vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng, giúp cho các nhà quản trị biết được tình hình hoạt động hiện tại của ngân hàng để có thể đưa ra những chiến lược, những biện pháp hoạt động phù hợp.2 Ý nghĩa về khả năng sinh lời : Đối với ngân hàng Khả năng sinh lời có ý nghĩa rất quan trọng, gắn liền với hiệu quả hoạt động và phát triển của các ngân hàng.
Đây là cơ sở để ngân hàng ra các quyết định kinh doanh và là điều kiện để các NHTM bảo toàn vốn, mở rộng thị trường cho vay, đầu tư đổi mới công nghệ,thu hút khách hàng. Tuy nhiên, giữa khả năng sinh lờivà rủi ro có mối quan hệ đánh đổi, khả năng sinh lời càng cao thì mức độ rủi ro càng cao. Vì vậy, các nhà quản trị phải luôn cân bằng sự đánh đổi giữa 2 yếu tố nàyđể đạt được hiệu quả tốt nhất. Đối với nền kinh tế Ngân hàng là một phần thiết yếu của nền kinh tế.
Khả năng sinh lời của ngành ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng của nền kinh tế, là động lực, là đòn bẩy kinh tế của xã hội. Do vậy, nếu cácngân hàng hoạt động ổn định, có hiệu quả và luôn tăng trưởng, khả năng sinh lời cao sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định và kiềm chế lạm phát.3 Xác định khả năng sinh lời Để đo lường hiệu quả khả năng sinh lời, các ngân hàng thường sử dụng tỷ suất sinh lời. Tỷ suất sinh lời có nhiều dạng khác nhau nhưng trong bài nghiên cứu tôi chỉ sử dụng một số tỷ suất sinh lời như: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng các chỉ tiêu khác như: tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) và lợi nhuận biên (PBT).1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on asset - ROA) Tỷ suất sinh lời trên tài sản là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng.
Chỉ tiêu này cho biết cứ mỗi đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. 9 Tỷ lệ ROA được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho tổng tài sản có bình quân của từng thời kỳ. Gul và cộng sự (2011), Alper và Anbar (2011), Ayadi và Boujelbene (2012), Tan (2016) cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác đã sử dụng tỷ lệ ROA để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy ROA phụ thuộc vào nhiều nhân tố, chẳng hạn như quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng, tỷ lệ lạm phát, cấu trúc thị trường tài chính… 2.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on equity - ROE) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là chỉ số tài chính dùng để đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu của NHTM.
ROE đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường (Gul và cộng sự, 2011). Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ rằng ngân hàng đã sử dụng đồng vốn của cổ đông có hiệu quả. ROE được tính bằng công thức sau đây: Trong các nghiên cứu của Gul và cộng sự (2011), Alper và Anbar (2011), Tan (2016), ROE được sử dụng làm biến phụ thuộc để phân tích các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời. Tương tự ROA, ROE phụ thuộc và các yếu tố như quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, năng suất lao động, GDP, lạm phát,… 2.3 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net interest margin - NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi thuần là yếu tố thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
NIM chỉ tính đến lợi nhuận kiếm được từ các hoạt động của ngân hàng theo mức tài sản có sinh lời (Naceur và Goaied, 2001). NIM được tính bằng công thức sau đây: 10 Trong đó, thu nhập lãi bao gồm các khoản thu nhập từ hoạt động cho vay và đầu tư chứng khoán. Chi phí lãi bao gồm chi phí trả lãi tiền gửi và nợ khác của ngân hàng. Tài sản có sinh lời bao gồm: cho vay khách hàng, các khoản đầu tư, cho vay liên ngân hàng, tiền gửi tại NHNN,… Gul và cộng sự (2011), Tan (2016) cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác đã sử dụng NIM là biến phụ thuộc trong các nghiên cứu về nhân tố tác động đến khả năng sinh lời.
Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lý tài sản và nợ.4 Lợi nhuận biên (Profit Margin - PBT) Lợi nhuận biên là tỉ lệ được tính toán bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế chia cho tổng tài sản (Tan, 2016). Lợi nhuận biên được sử dụng như là một trong những chỉ số lợi nhuận. Sự khác biệt giữa ROA và lợi nhuận biênlà lợi nhuận biên xem xét đến chi phí thuế trong lợi nhuận ngân hàng, chỉ số này để xem liệu thuế có ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng không. PBT được tính bằng công thức sau đây: Demirguc-Kunt and Huizinga (1999), Tan (2016) đã sử dụng PBT là biến phụ thuộc trong các nghiên cứu về nhân tố tác động đến khả năng sinh lời.
Kết quả nghiên cứu cho thấy PBT phụ thuộc vào quy mô ngân hàng, thuế, lạm phát, GDP… Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời phản ánh các khía cạnh khác nhau của hoạt động ngân hàng. Cụ thể: ROA thể hiện khả năng của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận từ tài sản, trong khi ROE có liên quan đến các quyết định tài chính và đòn bẩy của các ngân hàng, tỷ lệ NIM cụ thể hơn tập trung vào các hoạt động cho vay, trong khi lợi nhuận biên xem xét ảnh hưởng thuế trên khả năng sinh lời của ngân hàng.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 2.1 Tan (2016) 11 Tan (2016) sử dụng mô hình GMM với dữ liệu bao gồm 41 ngân hàng thương mại Trung Quốc trong giai đoạn 2003 - 2011 để xem xét những tác động của rủi ro và cạnh tranh đến lợi nhuận ngân hàng ở Trung Quốc. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng bốn biến đại diện cho khả năng sinh lời của ngân hàng là tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) và lợi nhuận biên (PBT). Các biến độc lập được sử dụng là quy mô ngân hàng, rủi ro ngân hàng, thanh khoản, vốn chủ sở hữu, chi phí, thuế, khả năng cạnh tranh, lạm phát, tăng trưởng GDP… Mô hình nghiên cứu bao gồm: Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng, thanh khoản và tiền gửi khách hàng có mối tương quan nghịch với ROA, NIM và PBT.
Thuế có mối tương quan nghịch với cả bốn chỉ tiêu ROA, ROE và PBT. Ngược lại, lạm phát, GDP có mối tương quan thuận với ROA, NIM and PBT… 2.2 Ayadi và Boujelbene (2012) Ayadi và Boujelbene (2012) đã sử dụng mô hình mô hình Fixed Effects (FEM) và Random Effects (REM) để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các Ngân hàng tiền gửi Tunisian. Bài nghiên cứu đã sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản (ROA) làm biến đại diện cho khả năng sinh lợi của ngân hàng. Các biến độc lập đại diện cho đặc điểm nội tại của ngân hàng bao gồm: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, vốn chủ sở hữu và quy mô ngân hàng.
Các biến đại diện cho cấu trúc tài chính bao gồm: sự tập trung, tổng tài sản của ngân hàng trên GDP, giá trị vốn hóa thị trường trên tổng tài sản của ngân hàng và giá trị vốn hóa thị trường trên GDP. Các biến đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế và tỷ lệ lạm phát.