Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 5 CHƢƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Lý thuyết chi phí đại diện Lý thuyết chi phí đại diện (Agency Cost Theory) được phát triển bởi Alchian và Demsetz (1972) sau đó được Jensen và Meckling (1976), Padilla (2000), Mallin (2004),… phát triển thêm. Jensen và Meckling (1976) đã định nghĩa “đại diện” như là việc ký một hợp đồng, trong đó người chủ ký kết với người khác (người đại diện) để thực hiện một số công việc thay người chủ và chi phí đại diện phát sinh khi người đại diện không hành động vì mục tiêu tối đa hóa giá trị cho người chủ. Tổng chi phí đại diện được lượng hóa bằng chi phí giám sát của người chủ, chi phí ràng buộc giữa người chủ và người đại diện và chi phí thiệt hại phụ trội.
Chi phí giám sát là các chi phí bỏ ra để đánh giá và giám sát hành vi của người đại diện như chi cho kiểm toán, thưởng cho nhà quản lý. Chi phí ràng buộc người đại diện là khoản bồi thường của người đại diện do hành động trái với mong muốn của người chủ. Chi phí thiệt hại phụ trội liên quan đến các khoản phát sinh do yêu cầu ràng buộc nhà quản lý quá mức cần thiết. Các tác giả phát triển lý thuyết chi phí đại diện cho rằng chi phí đại diện phát sinh do mâu thuẫn lợi ích của người quản lý và người chủ sở hữu của Công ty hoặc giữa người chủ sở hữu (cổ đông) và chủ nợ hoặc tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị (thành viên Hội đồng quản trị điều hành – không điều hành, bên trong – bên ngoài, độc lập – phụ thuộc) hoặc giữa các cổ đông với nhau ( cổ đông chiếm đa số - cổ đông thiểu số, cổ đông cá nhân – cổ đông tổ chức,.),…vì lợi ích của các nhóm người này khác nhau.
Lợi ích của người chủ sở hữu gắn liền với giá trị của công ty, lợi ích của người quản lý là lương thưởng mà công ty dành cho họ, lợi ích của chủ nợ là khoản vốn gốc và lãi vay được hoàn trả khi cho vay,…. Chi phí đại diện tác động đến giá trị công ty thông qua cả ba quyết định chủ chốt: quyết định đầu tư, quyết định về chính sách phân phối, quyết định tài trợ. 6 Theo đó, nhà quản lý có thể sẽ không quyết định thực hiện các dự án đầu tư có thể mang lại lợi ích lớn nhất cho công ty/chủ sở hữu công ty mà chọn thực hiện các dự án kém hiệu quả hơn nhưng có thể đem lại lợi ích cho cá nhân họ hay còn gọi là “đầu tư dưới mức”. Trong quyết định tài trợ, chi phí đại diện chính là chi phí đại diện của nợ, phát sinh khi công ty sử dụng nợ vay, dẫn đến công ty có động cơ từ chối các dự án có NPV dương hay thực hiện các “trò chơi” khác như “chuyển dịch rủi ro”, “thả mồi bắt bóng”, “thu tiền và bỏ chạy”,… nhằm hạn chế việc chuyển dịch giá trị từ cổ đông sang tay các trái chủ.
Khi công ty vay nợ càng nhiều hoặc sử dụng nợ dài hạn càng nhiều thì chi phí đại diện của nợ phát sinh càng lớn do công ty càng có động cơ thực hiện các trò chơi trên. Myer (1977) cho rằng tại các công ty có khả năng phát sinh chi phí đại diện càng lớn thì càng nên sử dụng nhiều nợ ngắn hạn và/hoặc xây dựng cấu trúc kỳ hạn nợ tương xứng với cấu trúc kỳ hạn tài sản để giảm bớt chi phí đại diện. Trong đó, các công ty được coi là có khả năng phát sinh nhiều chi phí đại diện như các công ty có quy mô nhỏ, nhiều cơ hội tăng trưởng,… 2. Lý thuyết bất cân xứng thông tin Thông tin bất cân xứng là tình trạng xảy ra khi một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại.
Thông tin bất cân xứng tồn tại ở mọi lĩnh vực trong cuộc sống: thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, thị trường hàng hóa, thị trường lao động, đầu tư, thể thao,…. Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information Theory) được khởi xướng lần đầu tiên bởi Akerlof vào năm 1970 trong bài nghiên cứu “The Market for "Lemons": Quality Uncertainty and the Market Mechanism”, sau đó cùng với sự bổ sung của nhiều tác giả như Spense (1973) với “Job Market Signaling”, Joseph Stiglitz (1975), Akerlof và các cộng sự (2001),. Lý thuyết này đã khẳng định tầm quan trọng của mình khi trở thành trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại. Đặc biệt trong các nền kinh tế mà thị trường tài chính còn chưa phát triển như trong các nền kinh tế mới nổi, chưa phát triển, nơi mà tính minh bạch của 7 thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém còn rất phổ biến.
Thông tin bất cân xứng sẽ gây ra các hậu quả như: lựa chọn ngƣợc/bất lợi (Adverse Selection) xảy ra trong thị trường mà người bán hoặc người mua biết rõ hơn bên còn lại về tính chất của sản phẩm; rủi ro đạo đức (Moral Hazard): tình trạng cá nhân/tổ chức dựa trên việc người khác không thể quan sát được hành vi của mình có xu hướng gian dối, không trung thực; chi phí đại diện nêu ở trên. Lý thuyết bất cân xứng thông tin cho rằng, có 03 giải pháp có thể hạn chế bất cân xứng thông tin bao gồm: phát tín hiệu (Signling), sàng lọc (Screening) và cơ chế giám sát (Monitoring). Trong thị trường tài chính, người đi vay là người nắm rõ thông tin về mình nên sẽ được lợi nhiều hơn trong giao dịch, ngược lại người cho vay cũng không dễ dãi nếu không biết rõ về khách hàng của mình. Để giao dịch thành công, người đi vay phải phát tín hiệu rằng mình là người có khả năng trả được nợ tốt: các tín hiệu như uy tín của công ty, quy mô và danh tiếng công ty, năng lực tài chính, tài sản bảo đảm,… Tương tự như vậy, để hạn chế lựa chọn ngược, người cho vay thường áp dụng hạn mức tín dụng khác nhau đối với mỗi đối tượng vay, dự án và thời hạn vay; trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư thường sàng lọc và thường lựa chọn đầu tư vào các công ty có thông tin minh bạch, uy tín, hoạt động hiệu quả.
Để giảm thiểu rủi ro đạo đức, các nhà đầu tư xây dựng cơ chế giám sát có thể dưới dạng trực tiếp hoặc gián tiếp. Cơ chế giám sát trực tiếp là việc nhà đầu tư tự bỏ ra nguồn lực để đạt được kiểm soát thông tin của đối tác. Cơ chế giám sát gián tiếp thông qua thông tin thu thập từ các nhà tổ chức thị trường như Ủy ban chứng khoán nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán từ các nguồn thông tin bắt buộc cung cấp. Flannery (1986) cho rằng các công ty sử dụng cấu trúc kỳ hạn nợ để báo hiệu thông tin nội bộ về tình hình tài chính công ty.
Flannery cho thấy việc phát hành nợ ngắn hạn được thị trường đánh giá như là một tín hiệu tốt từ công ty do các nhà đầu tư tin rằng rút ngắn kỳ hạn thanh toán nợ có nghĩa là các công ty đầu tư có 8 hiệu quả và có khả năng thanh toán tốt. Do vậy các công ty có tình hình tài chính tốt thích sử dụng nợ ngắn hạn vì mục đích phát tín hiệu ra thị trường bên ngoài về tình hình tài chính của mình. Trong khi đó các công ty có tình hình tài chính không tốt lựa chọn sử dụng nợ dài hạn vì họ không đủ khả năng để thanh toán cho các khoản nợ có kỳ hạn ngắn. Ảnh hƣởng của thuế lên cấu trúc kỳ hạn nợ Modigliani và Miller (1958) nghiên cứu giữa cấu trúc vốn và giá trị công ty đã kết luận là trong thị trường vốn hoàn hảo, cấu trúc vốn tối ưu và cấu trúc kỳ hạn nợ tối ưu không có liên quan đến giá trị công ty.
Tức là các công ty không có động cơ để thay đổi cấu trúc kỳ hạn nợ nhằm tối đa hóa giá trị công ty. Tuy nhiên kết luận của Modigliani và Miller lại dựa trên rất nhiều giả định, trong đó có giả định không có thuế và các chi phí giao dịch liên quan đến phát hành nợ. Chính vì các giả định của Modigliani và Miller, các tác giả sau này đã phản biện lại kết luận của Modigliani và Miller khi lần lượt bớt đi các giả định thị trường hoàn hảo. Các lý thuyết phản biện là lý thuyết đánh đổi truyền thống static (Static Trade-off Theory) và lý thuyết đánh đổi linh hoạt (Dynamic Trade –off Theory) Lý thuyết đánh đổi truyền thống cho rằng công ty xây dựng cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ tối ưu thông qua việc cân bằng lợi ích giữa tấm chắn thuế của nợ vay và chi phí kiệt quệ tài chính - chi phí có liên quan trực tiếp với việc tăng nợ trong cấu trúc vốn hoặc giảm kỳ hạn nợ nắm giữ.
9 Giá trị công ty Hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính Hiện giá tấm chắn thuế Giá trị công ty có đòn bẩy Giá trị công ty không đòn bẩy Tỷ lệ nợ tối ưu Nợ vay Nguồn: Myer (1984) Lý thuyết đánh đổi linh hoạt (Dynamic Trade –off Theory) cho rằng cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ tối ưu được xác định bởi sự đánh đổi linh hoạt giữa lợi ích về thuế của nợ và chi phí phá sản khi công ty phản ứng giữa các cú sốc bất lợi ngay lập tức bằng cách tái cân bằng cấu trúc vốn duy trì một tỷ lệ nợ cao/cấu trúc kỳ hạn nợ dài để tận dụng các lợi ích từ thuế và lãi suất. Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc kỳ hạn nợ của các công ty và thông qua đánh giá tính đúng đắn của các lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết bất cân xứng thông tin và thuế trong thực tiễn. Các nghiên cứu về tác động của quy mô công ty, kỳ hạn tài sản, tốc độ tăng trƣởng lên cấu trúc kỳ hạn nợ Nhiều tác giả trên khắp thế giới đã tìm thấy mối tương quan dương giữa quy mô công ty, kỳ hạn tài sản, tốc độ tăng trưởng và kỳ hạn nợ (Stohs & Mauer, 1996; Marchica, 2001; Ozkan, 2002; Korner, 2007; Shah và Khan, 2009; Ariff và Rahman, 2011; Stephan và cộng sự, 2011; Lemma và Negash, 2011; Hajiha và Akhlagi, 2012; Costa và cộng sự, 2014).