Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG VÀ TỰ DO TÔN GIÁO 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TỰ DO TÔN GIÁO VÀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TỰ DO TÔN GIÁO 1. Khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo 1. Khái niệm về tín ngưỡng và tôn giáo Hiện nay với nhiều khái niệm về tín ngưỡng và tôn giáo với nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
Năm 1871, Taylor với câu nói “tôn giáo là lòng tin vào những vật linh", đúng hơn là những "vật siêu nhân", hay nói rộng ra là những "lực lượng phi nhân". Đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu xã hội học tôn giáo nổi tiếng người Đức Max Weber tuy không đưa ra một định nghĩa chính thức nào về tôn giáo nhưng ông cho rằng tôn giáo "như một dạng đặc biệt của hoạt động trong cộng đồng" gắn với "các thế lực siêu nhiên". Theo cách nhìn tôn giáo từ góc độ tư tưởng, triết học của các nhà kinh điển Mác- Lênin. Mác định nghĩa "tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là thế giới trái tim không có trái tim.
Cũng như nó là tinh thần của trạng thái xã hội mà ở đó tinh thần bị loại bỏ.Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân"."Tôn giáo là sản phẩm của Nhà nước và xã hội mà Nhà nước và xã hội là thế giới đảo ngược" [5]. Cũng trong tác phẩm góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác đã khẳng định lại: "Tôn giáo là cái ý thức về bản thân và cái cảm giác về bản thân con người chưa tìm thấy trong bản thân mình hoặc đánh mất bản thân mình một lần nữa". Sau này một số người đã tiếp cận phân tích trích dẫn những định nghĩa của Mác, Ăng ghen, Lênin một cách giáo điều, không đầy đủ, thậm chí còn cắt xén làm sai lạc đi nhiều. Gần đây một số nhà nghiên cứu tôn giáo Việt Nam cũng đưa ra những lý giải hoặc chia sẻ quan điểm của mình về tín ngưỡng, tôn giáo.
Tác giả Hoàng Phê trong 7 Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992, đưa ra định nghĩa "Tôn giáo là hình thức xã hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng có lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng, tôn thờ". Tác giả Mai Thanh Hải trong Từ điển Tôn giáo xuất bản năm 2001, đưa ra định nghĩa "tôn giáo là một hình thái nhận thức xã hội, phản ánh hiện thực qua các khái niệm, hình ảnh mang tính chất ảo ảnh, ảo vọng. Nói chung đó là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, vô hình mà con người cho là linh thiêng, được sùng bái và cầu khấn để nhờ cậy, che chở hoặc ban phát điều tốt lành". Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn trong sách Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam xuất bản năm 1998 cho rằng "tôn giáo là thế giới siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại hư ảo giữa con người và thế giới đó nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng như ở thế giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau, của từng cộng đồng tôn giáo hay xã hội khác nhau".
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Xuân, Phó trưởng Ban Ban Tôn giáo Chính phủ đã đưa ra một định nghĩa về tôn giáo khá bao trùm là, “tôn giáo là những hành vi (hoạt động) của con người để thực hiện niềm tin vào thế giới siêu nhiên”. Với định nghĩa này, tôn giáo gồm hai phạm trù là niềm tin và hanh vi của con người để thực hiện niềm tin vào thế giới siêu nhiên và đấng siêu nhiên. Như vậy, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào thế giới siêu nhiên mà họ cho rằng đã chi phối thế giới và con người, niềm tin này không nhận biết được. Tôn giáo là hành vi hay hoạt động của con người để thực hiện niềm tin vào thế giới siêu nhiên và đấng siêu nhiên.
Khái niệm này nhấn mạnh những hoạt động của con người như: thờ phụng, cúng bái, cầu nguyện, việc thực hiện các nghi lễ khác,.Các hoạt động này đều được thể hiện ra bên ngoài và đều nhận biết được. Tín ngưỡng là phạm trù rộng, còn tôn giáo là phạm trù cụ thể, là cái biểu hiện bên ngoài của tín ngưỡng. Không thể có những hoạt động tôn giáo nếu như không có niềm tin tôn giáo. Ở Việt Nam, bên cạnh khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo, còn có khái niệm tín ngưỡng dân gian.
Trước đây, khái niệm tín ngưỡng đã bao gồm cả tôn giáo, nên khi 8 nói các loại hình tôn giáo sơ khai (nguyên thủy) trong các dân tộc thiểu số, tôn giáo truyền thống trong người Kinh, người ta gọi "sang ngang" luôn là tín ngưỡng nguyên thủy hay tín ngưỡng dân gian (truyền thống). Như vậy, khái niệm tín ngưỡng ở nước ta được hiểu theo hai nghĩa, tùy theo từng văn cảnh khác nhau, khi chỉ niềm tin của con người vào thế giới siêu nhiên (tín ngưỡng), khi chỉ các loại hình tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo truyền thống hay tín ngưỡng dân gian. Khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo Xét về nguồn gốc, quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ra đời gắn liền với quá trình phát triển của các tôn giáo. Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ của lực lượng sản xuất và điều kiện sinh hoạt vật chất còn thấp, con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên.
Vì vậy, người nguyên thủy đã gắn cho thiên nhiên những sức mạnh siêu nhiên. Giai đoạn này tôn giáo chỉ phản ánh những nhận thức hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân và thế giới quanh mình. Nhưng khi xuất hiện giai cấp thì tôn giáo cũng phản ánh lợi ích giai cấp và đấu tranh giai cấp. Kitô giáo ra đời ở La Mã cổ đại, Phật giáo là đời ở ấn Độ cổ đại (thế kỷ 6TCN), Hồi giáo ra đời ở bán đảo Ả Rập (TK7 TCN) đều để đáp ứng nhu cầu của quần chúng bị nô lệ, quần chúng lao khổ khát vọng về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái.
Vào thế kỷ III (SCN), những người theo đạo Phật bị ngược đãi hành hạ ở Ấn Độ bởi vì họ đã tin tưởng vào những giáo huấn của Đức Phật. Bắt đầu từ thế kỷ IX (SCN) được gọi là “thời kỳ tăm tối” ở Châu Âu. Đạo Hồi và các đạo khác không phải đạo Cơ Đốc, bị ngược đãi hành hình “trên danh nghĩa chúa Trời”. Kế tiếp đó, chiến tranh mở rộng của Đế chế Ottoman và Đạo Hồi đã làm châu Âu khiếp sợ.
Những người Do Thái bị dồn vào sống trong những khu riêng biệt không chỉ bởi người Cơ Đốc mà còn bởi người Hồi Giáo trước đấy. Những hành động chống đối người Ấn ở Mỹ La tinh cũng xảy ra trong quá trình Cơ Đốc hóa. Ngay sau khi các cuộc cách mạng tư sản thành công, các chế độ dân chủ (tư sản) cộng hoà ra đời, tình trạng đó cơ bản chưa thay đổi, dù quyền lực thần quyền đã bị hạn chế. Trong khi đó, các vấn đề khủng bố, bạo lực, kết tội tôn giáo hoặc chiến tranh sắc tộc tôn giáo vẫn không ngừng diễn ra.
Nhu cầu lớn đầu tiên trong 9 quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo với rất nhiều quốc gia là nhu cầu mỗi công dân có thể theo một tín ngưỡng riêng hay cải đạo mà không sợ bị chính phủ phạt tội hoặc các “tôn giáo chính thống” trả thù. Trong quá khứ và cả hiện tại, những người theo tôn giáo hay không theo tôn giáo đều bị đe dọa bởi điều họ tin hay không tin. Do đó, nhu cầu tin theo một tín ngưỡng và biểu hiện niềm tin của tín ngưỡng ấy ra bên ngoài cần được bảo vệ. Quan niệm về tự do tôn giáo được hình thành ở châu Âu với các cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XVII - XVIII.
Những nhà tư tưởng như John Locke, đã đặt nền móng cho quyền tự do tôn giáo khi cho rằng, tôn giáo là vấn đề của cá nhân hơn là của xã hội. Vai trò của Nhà nước không phải là khuyến khích phát triển tôn giáo mà cơ bản là bảo vệ quyền của mỗi cá nhân có thể sở hữu niềm tin tôn giáo của chính mình và cách tốt nhất là hãy để con người tự lựa chọn tôn giáo cho mình.“Không ai tự nhiên bị trói buộc phải theo một nhà thờ hay một giáo phái, nhưng mọi người đều có thể tự nguyện tham gia vào xã hội mà ở đó anh ta tin là anh ta đã tìm thấy tín ngưỡng và sự tôn sùng thực sự có thể được Chúa Trời chấp nhận. Hy vọng cứu rỗi linh hồn, là lý do duy nhất khiến mỗi người bước vào thế giới đó, và vì vậy cũng có thể là lý do duy nhất để anh ta ở lại đó […]. Nhà thờ, vì vậy, là một xã hội mà thành viên tự nguyện hợp nhất lại” [49].
Sự bảo vệ thoả đáng ngày càng trở nên cấp thiết trong những năm gần đây bởi vì không khoan dung về tôn giáo và ngược đãi luôn ở vị trí hàng đầu của các xung đột bi thảm trên toàn thế giới liên quan đến các vấn đề về sắc tộc, mâu thuẫn chủng tộc, hay sự hận thù giữa các nhóm tôn giáo. Ngược đãi trên khía cạnh tôn giáo có thể được nhận ra trong các xung đột hiện nay giữa những tín đồ của một tín ngưỡng, tôn giáo và những người không theo tín ngưỡng, tôn giáo ấy; giữa tín ngưỡng truyền thống và tín ngưỡng “mới” ở những quốc gia đa tôn giáo, hoặc giữa các quốc gia với một tôn giáo chính thống hay được ưa chuộng với những cá nhân hoặc cộng đồng không thuộc tôn giáo đó. Trong tiến trình vận động của lịch sử, quan niệm về tự do tôn giáo dần dần trở nên hoàn thiện hơn. Trước khi quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo trở thành 10 quy tắc trong luật quốc tế, ở phạm vi các quốc gia, một số nước đã đề cập đến tự do trong đó có mầm mống của quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo trong các bản Tuyên ngôn của Quốc gia.
Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 đề cập đến tự do: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc" [24].