Luận văn pháp luật về quyền người cao tuổi Việt Nam - Nguyễn Thanh Hà

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu pháp luật về quyền người cao tuổi ở Việt Nam. Phân tích quy định quốc tế, pháp luật Việt Nam và đề xuất hoàn thiện chính sách bảo vệ quyền lợi người cao tuổi.

Tác giả

Nguyên Thanh Hà

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2017

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật quyền của người cao tuổi ở Việt Nam

Pháp luật về quyền của người cao tuổi ở Việt Nam là hệ thống quy định pháp lý nhằm bảo vệ, thúc đẩy và thực hiện các quyền cơ bản của nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên. Theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, người cao tuổi được xác định là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Hệ thống pháp luật này bao gồm Hiến pháp, Luật Người cao tuổi, các văn bản hướng dẫn thi hành và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Quyền của người cao tuổi không chỉ là vấn đề nhân đạo mà còn là trách nhiệm pháp lý của Nhà nước và xã hội. Việt Nam đã phê chuẩn nhiều công ước quốc tế liên quan đến quyền con người, trong đó có các nguyên tắc bảo vệ người cao tuổi. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện hành vẫn còn khoảng trống trong việc cụ thể hóa các quyền như quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền tham gia xã hội, hay quyền được bảo vệ khỏi bạo lực và phân biệt đối xử. Việc hoàn thiện pháp luật về quyền của người cao tuổi là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh dân số Việt Nam đang già hóa nhanh chóng – tỷ lệ người cao tuổi dự kiến chiếm 20% dân số vào năm 2038 (Tổng cục Thống kê, 2023).

1.1. Khái niệm người cao tuổi theo pháp luật Việt Nam

Theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Luật phân loại người cao tuổi thành ba nhóm: người cao tuổi (60–79 tuổi), người cao tuổi cô đơn hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, và người từ 80 tuổi trở lên. Việc phân loại này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng. Khái niệm này phản ánh sự tiếp cận theo hướng pháp luật nhân quyền, phù hợp với khuyến nghị của Liên Hợp Quốc về việc công nhận người cao tuổi là nhóm dễ tổn thương cần được bảo vệ đặc biệt.

1.2. Cơ sở pháp lý quốc tế về quyền của người cao tuổi

Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế liên quan đến quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR). Mặc dù chưa có công ước chuyên biệt toàn cầu về người cao tuổi, các văn kiện như Nguyên tắc Liên Hợp Quốc về người cao tuổi (1991) và Kế hoạch Hành động Madrid (2002) đều nhấn mạnh năm nguyên tắc cốt lõi: độc lập, tham gia, chăm sóc, tự thực hiện và phẩm giá. Các văn kiện pháp lý quốc tế này là cơ sở để Việt Nam xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước.

II. Những thách thức trong thực thi pháp luật quyền người cao tuổi

Mặc dù khung pháp lý về quyền của người cao tuổi đã được thiết lập, việc thực thi trên thực tế vẫn gặp nhiều thách thức pháp lý và xã hội. Một trong những rào cản lớn nhất là sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật. Ví dụ, Luật Người cao tuổi quy định rõ quyền được chăm sóc sức khỏe, nhưng lại chưa có cơ chế tài chính cụ thể để đảm bảo quyền này cho người cao tuổi nghèo hoặc sống ở vùng sâu vùng xa. Ngoài ra, bạo lực với người cao tuổi – bao gồm bạo lực thể chất, tinh thần và bỏ rơi – vẫn diễn ra âm ỉ trong cộng đồng, nhưng lại ít được tố giác do định kiến văn hóa và thiếu cơ chế bảo vệ hiệu quả. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Đông (2017), sau 8 năm thi hành Luật Người cao tuổi, nhiều địa phương vẫn chưa thành lập Ban Công tác người cao tuổi cấp xã, dẫn đến việc triển khai chính sách bị gián đoạn. Thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực cũng là nguyên nhân khiến các quyền như quyền học tập suốt đời, quyền tham gia hoạt động cộng đồng chưa được hiện thực hóa đầy đủ. Những khoảng trống này cho thấy nhu cầu cấp thiết phải cải cách hệ thống pháp luật theo hướng tiếp cận dựa trên quyền con người (HRBA).

2.1. Khoảng trống pháp lý trong bảo vệ người cao tuổi

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về hành vi bạo lực với người cao tuổi trong Bộ luật Hình sự hay Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Điều này khiến nạn nhân khó tiếp cận công lý. Ngoài ra, các quyền như quyền được sống độc lập, quyền ra quyết định về chăm sóc y tế cuối đời vẫn chưa được luật hóa rõ ràng, dẫn đến tình trạng người cao tuổi bị tước đoạt quyền tự quyết trong nhiều hoàn cảnh.

2.2. Rào cản xã hội và văn hóa

Văn hóa “kính lão đắc thọ” truyền thống đang dần mai một trong xã hội hiện đại. Nhiều người cao tuổi bị xem là gánh nặng, đặc biệt ở các gia đình trẻ đô thị. Điều này tạo ra kỳ thị tuổi tác (ageism) – một dạng phân biệt đối xử ít được thừa nhận. Hệ quả là người cao tuổi ngại tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục hoặc tham gia các hoạt động công cộng, làm suy giảm chất lượng cuộc sống và vi phạm nguyên tắc phẩm giá con người.

III. Cách hoàn thiện pháp luật quyền người cao tuổi theo hướng nhân quyền

Để hoàn thiện pháp luật về quyền của người cao tuổi, cần áp dụng cách tiếp cận dựa trên quyền con người (Human Rights-Based Approach – HRBA). Theo luận văn của Nguyễn Thanh Hà (2017), việc sửa đổi Luật Người cao tuổi cần tập trung vào ba trụ cột: (1) cụ thể hóa các quyền trong văn bản luật; (2) thiết lập cơ chế giám sát và khiếu nại hiệu quả; (3) phân bổ ngân sách công minh bạch cho các chương trình hỗ trợ người cao tuổi. Một giải pháp then chốt là xây dựng Luật Bảo vệ người cao tuổi chuyên biệt, trong đó quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và cộng đồng. Đồng thời, cần lồng ghép quyền của người cao tuổi vào các chiến lược phát triển quốc gia như Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản, Kế hoạch Hành động quốc gia về người cao tuổi. Việc tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc – nơi có hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi hiệu quả – cũng mang lại bài học quý giá. Đặc biệt, cần thúc đẩy sự tham gia của chính người cao tuổi trong quá trình xây dựng chính sách để đảm bảo tính thực tiễn và nhân văn.

3.1. Đề xuất sửa đổi Luật Người cao tuổi năm 2009

Luật cần được sửa đổi để bổ sung các điều khoản về quyền được chăm sóc dài hạn, quyền tiếp cận công nghệ số, và quyền được bảo vệ khỏi bạo lực. Ngoài ra, nên quy định rõ vai trò của Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi trong việc giám sát việc thực thi pháp luật. Các chế tài xử lý vi phạm cũng cần được tăng cường để răn đe và bảo vệ nạn nhân.

3.2. Tích hợp quyền người cao tuổi vào hệ thống pháp luật chung

Cần lồng ghép nguyên tắc không phân biệt đối xử theo độ tuổi vào Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Ví dụ, nên cấm từ chối tuyển dụng hoặc cung cấp dịch vụ y tế chỉ vì lý do tuổi tác. Việc này giúp đảm bảo người cao tuổi được đối xử công bằng trong mọi lĩnh vực đời sống.

IV. Ứng dụng thực tiễn của pháp luật quyền người cao tuổi tại địa phương

Một số địa phương đã triển khai hiệu quả các chính sách bảo vệ quyền của người cao tuổi, tạo tiền đề nhân rộng trên toàn quốc. Tại Hà Nội, mô hình “Câu lạc bộ Người cao tuổi” không chỉ là nơi sinh hoạt mà còn là kênh tiếp nhận thông tin pháp lý và y tế. Tại Đồng Tháp, chính quyền đã thí điểm chương trình “Chăm sóc người cao tuổi tại nhà” với sự tham gia của y bác sĩ cộng đồng, giúp giảm gánh nặng cho hệ thống bệnh viện. Tuy nhiên, hiệu quả còn phụ thuộc lớn vào nguồn lực địa phương và nhận thức của cán bộ cơ sở. Theo khảo sát của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa Gia đình (2022), chỉ 35% xã/phường có cán bộ chuyên trách về người cao tuổi. Điều này cho thấy sự cần thiết phải đào tạo đội ngũ cán bộ am hiểu pháp luật về người cao tuổi và có kỹ năng tiếp cận nhóm đối tượng đặc thù này. Các sáng kiến cộng đồng như “Ngôi nhà an toàn cho người cao tuổi” hay “Ứng dụng công nghệ hỗ trợ người cao tuổi” cũng đang được khuyến khích nhân rộng.

4.1. Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng

Các mô hình dựa vào cộng đồng như “Tổ liên gia tự quản người cao tuổi” hay “Tình nguyện viên chăm sóc tại nhà” đã chứng minh hiệu quả trong việc phát hiện sớm bạo lực và hỗ trợ y tế kịp thời. Những mô hình này cần được pháp điển hóa để trở thành nghĩa vụ của chính quyền cấp xã.

4.2. Vai trò của tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền người cao tuổi

Hội Người cao tuổi Việt Nam đóng vai trò cầu nối giữa Nhà nước và công dân. Tổ chức này không chỉ tuyên truyền pháp luật về quyền của người cao tuổi mà còn tham gia giám sát việc thực thi chính sách. Tuy nhiên, năng lực của Hội ở cấp cơ sở còn hạn chế do thiếu kinh phí và đào tạo chuyên sâu.

V. Tương lai của pháp luật quyền người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số với tốc độ nhanh nhất thế giới. Đến năm 2030, cứ 5 người dân thì có 1 người cao tuổi. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới toàn diện hệ thống pháp luật liên quan đến quyền của người cao tuổi. Tương lai pháp luật cần hướng tới việc công nhận người cao tuổi không chỉ là đối tượng được bảo trợ mà còn là chủ thể quyền – có quyền tham gia ra quyết định, đóng góp kinh nghiệm và tiếp tục phát triển. Một xu hướng quan trọng là xây dựng hiến định hóa quyền người cao tuổi, tương tự như cách Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận quyền trẻ em. Ngoài ra, cần thúc đẩy nghiên cứu học thuật về pháp luật người cao tuổi, vốn còn là lĩnh vực mới trong khoa học pháp lý Việt Nam. Việc thành lập trung tâm nghiên cứu chuyên sâu hoặc đưa nội dung này vào chương trình đào tạo luật học sẽ góp phần nâng cao chất lượng lập pháp và thực thi pháp luật.

5.1. Xu hướng hiến định hóa quyền người cao tuổi

Hiến pháp nên bổ sung điều khoản cụ thể về quyền của người cao tuổi, khẳng định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo vệ, thúc đẩy và thực hiện các quyền này. Điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý tối cao để xây dựng các đạo luật chuyên ngành hiệu quả hơn.

5.2. Nâng cao năng lực nghiên cứu pháp lý về người cao tuổi

Cần khuyến khích các đề tài nghiên cứu khoa học về pháp luật người cao tuổi, đặc biệt ở cấp đại học và sau đại học. Việc thiếu tài liệu học thuật chuyên sâu đang là rào cản lớn trong việc đào tạo luật sư, thẩm phán và cán bộ có năng lực xử lý các vụ việc liên quan đến người cao tuổi.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn pháp luật quyền của người cao tuổi ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 PHAP LUAT QUOC TE VE QUYEN CUA NGUOI CAO TUT 1. Khải niệm về người cao tudi Theo Báo cáo tém tit “Giả hỏa trong thế ký 21: thành tựu và thách thức” do Quỹ dân số Liên. hợp quốc và Tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc về công bế năm 2012 thống kê số người cao tuổi trên toàn thể giới đạt 810 triệu người. Dự kiến trong vòng 10 năm tiếp theo sẽ đạt con số ] tỷ người và đạt 2 tỷ người vào năm 2050, chiếm 22% tổng dân số trên thế piới [39] Ở nhiều nước phát triển, tuổi gia không được dịnh nghĩa dựa trên các mắc thời gian đánh dấu các giai doạn của cuộc đời má dược bắt dầu tính tử thời điểm cáu đóng góp tích cực không cỏn nữa Hầu hết các nước thuộc khu vực Châu Âu đã chấp nhận độ Luỗi được coi là người ao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên.

Định nghĩa này phan nhiễu liên quan đến độ tuổi bắt đầu được hưởng chế độ trợ cắp hưu trí ở khu vực này. Một số nước kém phát triển như các nước khu vực Châu Phi, dù không có một định nghĩa cụ thể, nhưng được xem xét ở độ tuổi 50 đến 55 tuổi, tủy thuộc bối cảnh, vùng và đất nước [45] Mặc dù không có quy định cụ thể nhưng nhưng trong các văn kiên của mình, Liên hợp quốc thường sử đụng 60 năm trở lên khi để cập đến Người cao tuổi (Bình luận chung số 6 HSCR, Tuyên ngôn chỉnh trị và chương trình hành động quốc tế Madnd về Người cao tuổi). Tuy nhiễn, vẫn để nảy đường, như vẫn củn chưa thống nhất, bởi cơ quan chuyển môn của Liên hợp quốc, nhu ILO lai su dung mốc 65 tuổi dễ dược hướng các quyền lao động đảnh cho người giả (Công ướo C128 về trợ cấp cho người tản lật, người cáo tuổi và người sống sói, 1967), w MUC LUC Trang Trang phy bia Tan cam doan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MO DAU. QUYỂN CỦA NGƯỜI CAO TƯỚI.

Aww Chương 1: PHÁP LUẬT QUOC 1. Khái niệm về người cao tuổi. Khái niệm quyền của người cao Luỗi - 1. Quyền của người cao tuổi trong một số văn kiện pháp lý quốo tế.

ND 14 Quyề của người cao tuổi trong một. số văn kiện pháp lý khu vực. 'LIỂU KẾT CHƯƠNG 1. Chương 2: PHÁP LUẬT VẺ QUYỀN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI Min 1.

Khải niệm về người cao tuổi. Quyền của người cao tuổi trongs pháp luật Việt Nam. TIỂU KT GIƯƠNG 2 Chương 3: QUAN ĐIỂM VA DE XUAT KIÊN NGIIỊ IOÀN TIIỆX CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VẺ QUYỀN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI 3. Quan diém vỀ việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về quyền của.

Tgười cao tuôi. Một số để xuất, kiến, nghỉ nhằm n hoàn thiện chỉnh sách, ship luật về quyền của người cao tuổi " 71 TIEU KET CHUONG 3 75 KET LUAN 76 TAI LIEU THAM KHAO 78 mang ÿ nghĩa quan trọng và phù hợp với xu thé thực tiễn góp phần định tưởng hoàn thiện pháp luật nhằm dám báo tốt hơn quyền của người cao tuổi 2. Tình hình nghiên cứu Quyên của người cao tuổi là một để tài khá mới trong hoạt động nghiên cửu khoa hoặc pháp lý. Trên thế giới đã có một số nghiên cửu có liên quan đến vấn đề nay, nhu: - Diego Rodriguez-Pinz6n and Claudia Martin (2003), The International Human Right Status of Elderly Persons, American University International Law Review.

- Professor Jr Paul Ide Hert and Eugenio Mantovani, Specific Human Right for Older Person?, Vrije Universiteit Brussels (VUB) - Marthe Fredvang and Sunon Biggs (2012), fhe rights of older persons Protection and gaps under human right law, Brotherhood of StIaurence and University of Melboume Centre for Public Policy. Vẫn đề người cao tuổi và quyển của người cao tuổi ở Việt Nam mới đừng lại ở phạm vi những bài viết ngắn như: - Nguyễn Thị Loan Anh (2013), “ quyển của người cao tất trong 1y thảo sửa dỗi Hiển pháp 1992”, Tạp Chỉ Oông Sản diễn từ. Tác giả khải quát các nguyên tắc của Liên hợp quốc vỀ người sao tuổi, liệt kế uác quyên và nghĩa vụ của nguời cao tuổi được quy định trong Luật người cao tuổi, liệt kê các quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi dược quy dịnh trong luật người cao Luỗi, xác định chế định quyền của người cáo tuổi trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. - Nguyễn Văn Đông (2017), “Luật người cao tôi — Thực tiễn triển khai sau 8 năm thì hành”, Tạp chi dan chủ pháp luật.

Bài viết (ôm tắt một vài kết quả sau khi thi hành luật người cao tuổi, đưa ra những bắt cập và hạn chế trong thực tiễn triển khai Luật, và đưa ra một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả Luật người cao. tuổi tò Chương 1 PHAP LUAT QUOC TE VE QUYEN CUA NGUOI CAO TUT 1. Khải niệm về người cao tudi Theo Báo cáo tém tit “Giả hỏa trong thế ký 21: thành tựu và thách thức” do Quỹ dân số Liên. hợp quốc và Tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc về công bế năm 2012 thống kê số người cao tuổi trên toàn thể giới đạt 810 triệu người.

Dự kiến trong vòng 10 năm tiếp theo sẽ đạt con số ] tỷ người và đạt 2 tỷ người vào năm 2050, chiếm 22% tổng dân số trên thế piới [39] Ở nhiều nước phát triển, tuổi gia không được dịnh nghĩa dựa trên các mắc thời gian đánh dấu các giai doạn của cuộc đời má dược bắt dầu tính tử thời điểm cáu đóng góp tích cực không cỏn nữa Hầu hết các nước thuộc khu vực Châu Âu đã chấp nhận độ Luỗi được coi là người ao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên. Định nghĩa này phan nhiễu liên quan đến độ tuổi bắt đầu được hưởng chế độ trợ cắp hưu trí ở khu vực này. Một số nước kém phát triển như các nước khu vực Châu Phi, dù không có một định nghĩa cụ thể, nhưng được xem xét ở độ tuổi 50 đến 55 tuổi, tủy thuộc bối cảnh, vùng và đất nước [45] Mặc dù không có quy định cụ thể nhưng nhưng trong các văn kiên của mình, Liên hợp quốc thường sử đụng 60 năm trở lên khi để cập đến Người cao tuổi (Bình luận chung số 6 HSCR, Tuyên ngôn chỉnh trị và chương trình hành động quốc tế Madnd về Người cao tuổi). Tuy nhiễn, vẫn để nảy đường, như vẫn củn chưa thống nhất, bởi cơ quan chuyển môn của Liên hợp quốc, nhu ILO lai su dung mốc 65 tuổi dễ dược hướng các quyền lao động đảnh cho người giả (Công ướo C128 về trợ cấp cho người tản lật, người cáo tuổi và người sống sói, 1967), w Chương 1 PHAP LUAT QUOC TE VE QUYEN CUA NGUOI CAO TUT 1.

Khải niệm về người cao tudi Theo Báo cáo tém tit “Giả hỏa trong thế ký 21: thành tựu và thách thức” do Quỹ dân số Liên. hợp quốc và Tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc về công bế năm 2012 thống kê số người cao tuổi trên toàn thể giới đạt 810 triệu người. Dự kiến trong vòng 10 năm tiếp theo sẽ đạt con số ] tỷ người và đạt 2 tỷ người vào năm 2050, chiếm 22% tổng dân số trên thế piới [39] Ở nhiều nước phát triển, tuổi gia không được dịnh nghĩa dựa trên các mắc thời gian đánh dấu các giai doạn của cuộc đời má dược bắt dầu tính tử thời điểm cáu đóng góp tích cực không cỏn nữa Hầu hết các nước thuộc khu vực Châu Âu đã chấp nhận độ Luỗi được coi là người ao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên. Định nghĩa này phan nhiễu liên quan đến độ tuổi bắt đầu được hưởng chế độ trợ cắp hưu trí ở khu vực này.

Một số nước kém phát triển như các nước khu vực Châu Phi, dù không có một định nghĩa cụ thể, nhưng được xem xét ở độ tuổi 50 đến 55 tuổi, tủy thuộc bối cảnh, vùng và đất nước [45] Mặc dù không có quy định cụ thể nhưng nhưng trong các văn kiên của mình, Liên hợp quốc thường sử đụng 60 năm trở lên khi để cập đến Người cao tuổi (Bình luận chung số 6 HSCR, Tuyên ngôn chỉnh trị và chương trình hành động quốc tế Madnd về Người cao tuổi). Tuy nhiễn, vẫn để nảy đường, như vẫn củn chưa thống nhất, bởi cơ quan chuyển môn của Liên hợp quốc, nhu ILO lai su dung mốc 65 tuổi dễ dược hướng các quyền lao động đảnh cho người giả (Công ướo C128 về trợ cấp cho người tản lật, người cáo tuổi và người sống sói, 1967), w 3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu © Aduc dich Tuan van dua ra ba muc tiéu ce ban: Thứ nhất, phân tích các quy định của luật nhân quyền quốc tế về người cao tuổi và quyền của người cao tuổi. Thứ hai: phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan dén quyền của người cao tuổi.

Thứ ba: đưa ra những đề xuất nhằm hoản thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền của người cao tuổi. = Nhiệm vụ nghiên cứu 'Thứ nhật: khái quát một số vẫn đề 1ý luận liên quan đến người cao tuổi, đến quyển của người cao tuổi, khái quát các quy định của luật nhân quyền quốc tế nói chung và một số khu vực nói riêng về quyền của người cao tuổi. Thử hai: nêu và phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về quyền của người cao tuôi, đưa ra những nhận định, đánh giá về các quy định đó. Thứ ba: đưa ra quan điểm từ đó để xuất các giải pháp nhằm hoản thiện pháp luật Việt Nam 4.

Phương nháp nghiền cứu Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sứ), các quan diém cua Đăng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam và của Liên Hợp Quốc về quyên con người Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử đụng trong luận văn bao gồm: khão cứu tải liệu, phân tich — tổng hợp, thống kê, so sánh. Các cách tiếp cận của luận văn bao gầm: cách tiếp sận dựa trên quyền con người (HRBA), nhân học văn hóa, din tộc học, triết học, chính trị học vả luật học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ