CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN THAM NHŨNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố đối với vụ án tham nhũng 1.Khái niệm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố đối với vụ án tham nhũng 1. Tham nhũng và vụ án tham nhũng Tham nhũng là một hiện tượng tiêu cực xã hội có tính lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước. Tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ xã hội, với những biểu hiện và mức độ khác nhau, tuỳ thuộc bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn phát triển.
Tham nhũng là một khuyết tật bẩm sinh của quyền lực, không có quyền lực thì không thể thực hiện hành vi tham nhũng. Ba yếu tố làm nảy sinh tham nhũng đó là: lòng tham, quyền lực, và điều kiện hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội. Trong xã hội có giai cấp và nhà nước, một số người muốn sống sung túc nhưng không phải bằng sức lao động của chính mình hay bằng cách thức hợp pháp. Nhu cầu đó đã biến họ trở thành tham lam, ích kỷ, hám lợi.
Để thỏa mãn lòng tham, sự hám lợi đó, một số người có chức vụ, quyền hạn đã dùng quyền lực được giao để chiếm đoạt tài sản nhà nước, tài sản của tập thể, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, không phải lúc nào người có chức vụ, quyền hạn cũng có thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thỏa mãn tính vụ lợi của mình, mà phải trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định như: pháp luật sơ hở, chế độ quản lý cán bộ, công chức lỏng lẻo, yếu kém. thì người có chức vụ, quyền hạn mới thoả mãn được lòng tham, tính vụ lợi đó của mình. 9 Ở nhiều nước trên thế giới, khái niệm về tham nhũng tương đối thống nhất.
Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Theo nghĩa hẹp, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, lợi dụng chức vụ và quyền hạn để trục lợi cá nhân. Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) định nghĩa tham nhũng theo nghĩa hẹp, xem đó là hành vi lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng. Ở Việt Nam, Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa tham nhũng là “lợi dụng quyền hạn để nhũng nhiễu dân và lấy của” [21; tr.
Trên phương diện pháp lý, tham nhũng ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 xác định tham nhũng là “Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Khoản 1 Điều 3 của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, (có hiệu lực từ ngày 01/7/2019) đã giữ nguyên khái niệm nói trên. Để làm rõ hơn khái niệm tham nhũng, Khoản 7 Điều 3, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 xác định: “Vụ lợi là việc của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng”.
Đây là một khái niệm tương đối bao quát xác định bản chất của các hành vi tham nhũng phổ biến trong xã hội Việt Nam hiện nay. Như vậy, mặc dù có các cách diễn đạt khác nhau, nhưng điểm chung của hành vi tham nhũng là hành vi của người hoặc nhóm người có quyền lực, lợi dụng quyền lực để trục lợi riêng. Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị, tức là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của nhà nước. 10 Trên thực tế, hành vi tham nhũng biểu hiện rất đa dạng, dưới nhiều hình thức khác nhau.
Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định những hành vi sau đây thuộc nhóm các hành vi tham nhũng: 1. Tham ô tài sản. Nhận hối lộ. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.
Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi. Nhũng nhiễu vì vu lợi. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. Như vậy, khi một trong các hành vi nói trên xuất hiện thì được xem là xuất phát điểm cho một vụ án tham nhũng, dẫn đến hoạt động của các cơ quan tố tụng trong chu trình tư pháp nhằm giải quyết vụ án, khôi phục lại trật tự xã hội đã bị ảnh hưởng do hành vi gây ra. Quyền công tố và thực hành quyền công tố Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất nhà nước. QCT được hiểu là quyền của nhà nước, nhân danh lợi ích của nhà nước và xã hội quyết định có truy tố hay không truy tố một người ra trước tòa án để xét xử.
Việc thực hiện QCTảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, danh dự, nhân phẩm, tính mạng, tài sản của công dân nên bất cứnhà nước nào cũng quy định trình tự và thủ tục tố tụng rất chặt chẽ và phải do một chức danh pháp lý là Công tố viên (hoặc Kiểm sát viên) thực hiện. QCTđược thực hiện độc lập, không ai có quyền quyết định và can thiệp vào hoạt động truy tố của Công tố viên. Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của nhà nước giao cho VKSND thực hành nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thực hiện việc buộc tội đối với người đó trước phiên tòa.Ngay sau khi đất nước giành được độc lập (ngày 02/9/1945), hoạt động công tố của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nằm trong Tòa án. Sự phát triển của ngành công tố từ năm 1945 đến trước năm 1958 chủ yếu gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Tòa án.
Ngày 01/7/1958, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 256-TTg quy định nhiệm vụ của cơ quan công tố trong điều tra là điều tra và truy tố trước Tòa những kẻ phạm pháp về hình sự. Thuật ngữ Thực hành quyền công tố lần đầu xuất hiện tại Chương 2, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân: “VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Thực hiện QCT và kiểm sát điều tra là hai chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
Hiện nay, khái niệm thực hành QCT cũng được đề cập rất phổ biến trong các văn bản của Đảng, Chính phủ và nhiều văn bản pháp luật khác, với mục tiêu nhấn mạnh nhu cầu nâng cao chất lượng hoạt động công tố để chống bỏ lọt tội phạm. 12 Như vậy, trên cả phương diện chính trị và pháp lý, thực hành quyền công tố là việc Viện Kiểm sát nhân dân sử dụng các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội nhằm bảo đảm việc truy tố tội phạm được công bằng, nghiêm minh, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Theo đó, có thể hiểu thực hành QCT đối với vụ án tham nhũng là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng quyền năng pháp lý theo luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội về tham nhũng nhằm bảo đảm việc truy tố được công bằng, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội. Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố đối với vụ án tham nhũng Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể.
Áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau: - Khi xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật về quyền và nghĩa vụ mà tự họ không thể giải quyết được, phải nhờ cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan của tổ chức xã hội) có thẩm quyền giải quyết. - Khi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước. - Khi cần áp dụng chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật. - Khi nhà nước thấy cần kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể quan hệ pháp luật hoặc để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của sự kiện thực tế có ý nghĩa pháp lí như xác nhận di chúc, xác nhận văn bằng, chứng chỉ, hợp đồng viết tay, chữ kí của người có thẩm quyền.
13 Áp dụng pháp luật trong thực hành QCT với các vụ án hình sự là một dạng của áp dụng pháp luật nói chung. Áp dụng pháp luật trong thực hành QCT thuộc trường hợp áp dụng pháp luật khi nhà nước thấy cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, cần phải áp dụng chế tài pháp luật đối với người phạm tội.