Luận văn ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây sâm cau curculigo orchioides gaertn tại vườn ươm trường đại học nông lâm thái nguyên

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây sâm cau Curculigo Orchioides tại vườn ươm Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

62
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lý luận về cây dược liệu

2.2. Tổng quan về cây dược liệu

2.2.1. Trên thế giới

2.2.2. Ở Việt Nam

3. PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

3.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tỷ lệ (%) cây sống của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm

4.2. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng đường kính của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm

4.3. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng chiều cao của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm

4.4. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến số lá/thân của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm

4.5. Đánh giá chất lượng cây Sâm cau và dự kiến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

4.5.1. Đánh giá chất lượng cây Sâm cau

4.5.2. Dự kiến tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây sâm cau

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây sâm cau (Curculigo Orchioides) tại vườn ươm Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả cho thấy rằng chế độ che sáng có tác động rõ rệt đến các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, đường kính gốc và số lượng lá. Cụ thể, cây sâm cau được trồng dưới chế độ che sáng 50% cho thấy sự phát triển tốt nhất về chiều cao và đường kính gốc so với các chế độ che sáng khác. Điều này cho thấy rằng điều kiện sinh trưởng tối ưu là rất quan trọng cho sự phát triển của cây sâm cau.

1.1. Tỷ lệ sống của cây sâm cau

Tỷ lệ sống của cây sâm cau trong các công thức thí nghiệm cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các chế độ che sáng. Cây trồng dưới chế độ che sáng 50% có tỷ lệ sống cao nhất, đạt 85%, trong khi cây trồng dưới chế độ che sáng 100% chỉ đạt 60%. Điều này chứng tỏ rằng che sáng không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng cây mà còn đến khả năng sống sót của cây trong điều kiện vườn ươm. Việc lựa chọn chế độ che sáng phù hợp là cần thiết để đảm bảo tỷ lệ sống cao cho cây sâm cau.

1.2. Sinh trưởng chiều cao và đường kính gốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cây sâm cau có chiều cao và đường kính gốc phát triển tốt nhất khi được trồng dưới chế độ che sáng 50%. Cụ thể, chiều cao trung bình của cây đạt 30 cm và đường kính gốc đạt 1.5 cm sau 90 ngày theo dõi. Ngược lại, cây trồng dưới chế độ che sáng 100% có chiều cao trung bình chỉ đạt 20 cm và đường kính gốc 1.0 cm. Điều này cho thấy rằng điều kiện ánh sáng là yếu tố quyết định trong việc phát triển của cây sâm cau, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng quang hợp và sinh trưởng của cây.

1.3. Động thái ra lá của cây sâm cau

Động thái ra lá của cây sâm cau cũng bị ảnh hưởng bởi chế độ che sáng. Cây trồng dưới chế độ che sáng 50% có số lượng lá trung bình đạt 6 lá/cây, trong khi cây trồng dưới chế độ che sáng 100% chỉ có 4 lá/cây. Sự khác biệt này cho thấy rằng che sáng không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển về chiều cao và đường kính mà còn đến khả năng ra lá của cây. Việc ra lá nhiều hơn giúp cây có khả năng quang hợp tốt hơn, từ đó thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của cây sâm cau.

II. Đánh giá chất lượng cây sâm cau

Đánh giá chất lượng cây sâm cau sau khi áp dụng các chế độ che sáng cho thấy rằng cây trồng dưới chế độ che sáng 50% không chỉ có tỷ lệ sống cao mà còn đạt tiêu chuẩn chất lượng tốt nhất. Cây có thân rễ phát triển mạnh, màu sắc tươi sáng và không có dấu hiệu của bệnh tật. Ngược lại, cây trồng dưới chế độ che sáng 100% có chất lượng kém hơn, với thân rễ nhỏ và màu sắc nhạt. Điều này cho thấy rằng việc lựa chọn chế độ che sáng phù hợp không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng cây mà còn đến chất lượng sản phẩm cuối cùng.

2.1. Dự kiến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

Dựa trên kết quả nghiên cứu, dự kiến tỷ lệ cây sâm cau đạt tiêu chuẩn xuất vườn cao nhất là 75% cho chế độ che sáng 50%. Điều này cho thấy rằng chế độ che sáng này không chỉ tối ưu cho sinh trưởng cây mà còn đảm bảo chất lượng cây khi xuất vườn. Việc áp dụng chế độ che sáng hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp và quản lý vườn ươm.

01/03/2025
Luận văn ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây sâm cau curculigo orchioides gaertn tại vườn ươm trường đại học nông lâm thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một Quốc gia có 3/4 diện tích là rừng, nơi có sự đa dạng về nguồn tài nguyên cây thuốc và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số Quốc gia. Chính sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn đến sự đa dạng những kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh và cách sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh. Việc sử dụng những kinh nghiệm dân gian và nghiên cứu thực vật học dân tộc ở Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số nói riêng là rất cần thiết để góp phần phát triển nền kinh tế của đồng bào dân tộc [9].

Cũng như hầu hết các nước có nên văn hóa phương Đông, xu hướng sử dụng dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên và được sản xuất trong nước ở Việt Nam ngày càng tăng. Điều đó làm cho vị thế của cây thuốc Nam trong tương lai sẽ lơn hơn. Tuy nhiên, cũng vì lẽ đó mà trên thực tế việc khai thác không bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc nam sẽ làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái và thế hệ tương lai không còn được hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên này. Chính vì vậy, cần phải có những giải pháp vừa đảm bảo phát triển được nguồn tài nguyên cây thuốc Nam ngoài tự nhiên, vừa có được lợi nhuận từ các sản phẩm mà chúng mang lại mà không phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu khai thác từ tự nhiên.

Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được biết đên như một loài thảo dược quý hiếm có nhiều tác dụng đối với y học. Theo Đông y, thân rễ Sâm cau có thể trị sốt xuất huyết, chữ tê thấp, đau mình mầy, chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng, chữa cao huyết áp (tiền mãn kinh), bồi bổ tráng h 2 dương, trị nam tinh lạnh, nữ lạnh tử cung, chữa phong thấp, lưng lạnh đau, thần kinh suy nhược,… Ngày nay, y học hiện đại đã phát hiện trong thân rễ của loài Sâm cau có rất nhiều các hoạt chất hữu ích như có thể sử dụng chữa các bệnh nan y như các hoạt chất oxytocic, preparations, glycosides flavnone, glycosides, curculigoside, steroid, flavonoid, saponin và các hợp chất polyphenolic khác nhau được ứng dụng để chữa vô sinh, ung thư, rối loạn thần kin, … vì vậy đây là loài được nhiều quốc gia trên thế giới và nhiều người quan tâm gây trồng để nghiên cứu chữa bệnh [32]. Ở Việt Nam cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được biết đến với tên thuốc là Rhizoma Curculiginis, Đông y gọi là Tiên mao và cho rằng có vị cay, tính ấm, hơi có độc, có đặc tính chống ung thư, bổ thận tráng dương, ôn trung táo thấp, tán ứ, trừ tê, tráng gân cốt. Chủ trị tinh lạnh, liệt dương, đái đục ở nữ, bạch đới, người già đái són, lạnh da, thần kinh suy nhược, phong thấp, lưng gối lạnh đau, vận động khó khăn,… [34].

Cây sống lâu năm cao khoảng 30cm hoặc hơn. Có từ 3-6 lá, hình mũi mác xếp nếp tựa như lá cau nên gọi là Sâm cau. Phiến lá thon hẹp, hai mặt lá nhẵn gần như cùng màu, gân song song, dài 40cm, rộng 2-3,5cm, cống dàu 10cm. Thân rễ hình trụ cao, dạng củ, to bằng ngón tay út, có rễ phụ nhỏ, vỏ thô màu nâu, trong nạc màu vàng ngà.

Rễ có thể thu hái được quanh năm nên có thể thuận lợi cho việc nghiên cứu nhân giống từ rễ thay vì phải chờ đến mùa thu hái của hạt (tháng 5 - 7) [34]. Việt Nam được ghi nhận là có phân bố của loài Sâm cau tuy nhiên hiện nay loài này đang bị đe dọa nghiêm trọng ngoài tự nhiên do mất đi sinh cảnh sống và sự khai thác quá mức. Rất cần có một giải pháp bảo tồn và phát triển loài này tại địa phương [16]. Một trong những giải pháp bảo tồn được loài Sâm cau ngoài tự nhiên, vừa phát triển được nguồn gen quý hiếm có giá trị kinh tế cao này là cần tiến h 3 hành nhân giống, gây trồng loài trên các điều kiện lập địa và trong các môi trường nhân tạo khác nhau.

Xuất phát từ thực tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” làm cơ sở khoa học cho công tác nhân giống và gây trồng. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Xác định được chế độ che sáng thích hợp cho sinh trưởng của cây Sâm cau làm cơ sở khoa học cho công tác nhân giống và phát triển trồng đạt năng suất và chất lượng cao. Mục tiêu cụ thể - Xác định được đặc điểm sinh thái cơ bản của cây Sâm cau làm cơ sở cho việc gây trồng loài theo hướng sản xuất hang hóa.

- Cung cấp thêm dữ liệu để đánh giá khả năng và mức độ phát triển của cây trên từng điều kiện ánh sáng khác nhau. Ý nghĩa của việc nghiên cứu * Ý nghĩa khoa học Vận dụng những kiến thức thực tế của bản thân làm quen với quá trình nghiên cứu trong thực tế. Tích lũy những kinh nghiệm, những hiểu biết từ đó thấy được những điểm mạnh, điểm yếu cảu bản thân khi đi làm. Nâng cao kiến thức, hiểu biết về loài cây dược liệu Sâm cau cho bản thân.

Rèn luyện các kỹ năng tổng hợp, phân tích, tổng hợp số liệu tiếp thu và hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. * Ý nghĩa thực tiễn Xác định được ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng và phát triển của cây Sâm cau. h 4 Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực và chính xác. Đề xuất một số giải pháp kiến nghị về phương pháp, cách thức bón phân.

Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi ra trường. h 5 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về cây dược liệu Tài nguyên cây dược liệu là một dạng đặc biệt của tài nguyên sinh vật, thuộc tài nguyên có thể tái sinh (phục hồi), bao gồm hai yếu tố cấu thành là cây cỏ và tri thức sử dụng chúng là thuốc để chăm sóc cho sức khỏe. Cây thuốc khác với cây cỏ bình thường ở chỗ nó được dùng làm thuốc. Suy rộng ra đối với cây rau, cây để nhuộm, cây gia vị, … cũng như vậy.

Tính từ đứng sau danh từ “cây” chỉ công dụng của cây đó. Với định nghĩa này, một cây thuốc có hai yếu tố cấu thành đó là bản thân cây cỏ là nguồn gen hay yếu tố vật thể và tri thức sử dụng cây cỏ đó để chữa bệnh là yếu tố phi vật thể [13]. Hai yếu tố này luôn đi kèm với nhau. Các sinh vật quanh ta rất nhiều, nếu không biết sử dụng chúng để làm thuốc (cũng như các công dụng khác trong đời sống) thì chúng chỉ là những thực vật hoang dại ngoài tự nhiên.

Ngược lại, khi một cây đã biết dùng làm thuốc nhưng sau đó lại để mất tri thức sử dụng (hoặc đưa đến một nơi mà không ai biết dùng) thì nó cũng chỉ là cây cỏ dại trong tự nhiên. Bộ phận cấu thành thứ nhất (cây cỏ) là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài dưới tác động của các yếu tố tự nhiên, do đó liên quan đến các môn học khoa học tự nhiên như sinh học, nông học, lâm học, dược học,. Bộ phận thứ hai (tri thức) là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn của loài người, có từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, được đúc kết, tích lũy và lưu truyền qua nhiều thế hệ, chịu tác động của các quy luật kinh tế - xã hội, quản lý, do đó liên quan đến các môn học xã hội như dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, …[13].2 Tổng quan về cây dược liệu 2.1 Trên thế giới Theo thông tin của tổ chức Y tế thế giới (WTO), đến năm 1985, trên toàn thế giới đã biết tới trên 20.000 loài thực vật bậc thấp và bậc cao (trong h 6 tổng số 250.000 loài thực vật đã biết) được sử dụng trực tiếp là thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N. Theo Napralert, năm 1998 con số này được ước tính từ 30.000 loài cây thuốc.

Trong đó ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được xem là loài cây thuốc, Ấn Độ có hơn 6.000 loài, vùng nhiệt đới Đông – Nam khoảng 6. Nguồn gen cây thuốc đang ở trong tình trạng bị đe dọa do mất môi trường sống, nạn phá rừng, thiên tai, sự khai thác cạn kiệt,… Có rất nhiều bằng chứng chỉ ra rằng sự đa dạng nguồn gen thực vật, bao gồm cả cây thuốc, đang bị suy giảm một cách trầm trọng ở nhiều nước trên thế giới. Tình trạng này càng trở nên trần trọng ở những nơi có mật độ dân số cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, và nạn phá rừng thương xuyên xảy ra. Những quốc gia có nguồn gen cây thuốc phong phú cần phải nỗ lực hơn nữa để sưu tập, giữ gìn và bảo tồn nguồn gen quý này để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và sử dụng chúng một cách có hiệu quả [4].

Ngày nay, đã là thời điểm báo động về hậu quả mất đi nhanh chóng tính đa dạng của nguồn tài nguyên sinh học, trong đó có nguồn cây thuốc của mỗi quốc gia. Tư liệu từ Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này thông tin, thì có gần 30.000 loài được coi là bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau. Trong tài liệu “Các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ” xuất bản năm 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn số loài là cây thuốc. Trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư” (Sách đỏ về thực vật của Trung Quốc), năm 1996 cũng giới thiệu gần 200 loài được sử dụng làm thuốc, cần được bảo vệ [15].

Các nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm tài nguyên cây dược liệu được xác định là: - Tàn phá thực vật - Hoạt động du canh, du cư h 7 - Khai thác quá mức và sử dụng lãng phí tài nguyên cây thuốc - Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên - Khai thác không có kế hoạch và thay đổi cơ cấu cây trồng - Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hóa và bị thất truyền. Các nước trên giới đang hướng đến chương trình Quốc gia kết hợp bảo tồn và phát triển cây dược liệu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây sâm cau Curculigo Orchioides tại vườn ươm Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một nghiên cứu chuyên sâu về tác động của các mức độ che sáng khác nhau đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây sâm cau. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về kỹ thuật canh tác, giúp tối ưu hóa điều kiện môi trường để cây sâm cau phát triển tốt nhất. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và nông dân quan tâm đến việc trồng và chăm sóc loại cây dược liệu quý này.

Để mở rộng kiến thức về các kỹ thuật canh tác và quản lý cây trồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối, Luận án quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt, hoặc Luận văn đánh giá sinh trưởng loài cây keo lai. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp canh tác bền vững và hiệu quả.