Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ 1. Một số công trình khoa học nghiên cứu của tác giả nước ngoài - Lý Thuận Minh (Trung Quốc): Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là mấu chốt để phát triển năng lực chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa [58].
Qua công trình này, tác giả đã chỉ ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thực hiện dân chủ xã hội, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, nêu lên những nguyên tắc, nội dung, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong nền chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa Trung Quốc. - Thẫm Vĩnh Hoa - Ngô Quốc Diệu (Trung Quốc): Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước [41]. Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện, có hệ thống tư tưởng Đặng Tiểu Bình về cán bộ, với quan niệm công tác nhân tài là “kế lớn trăm năm” có vai trò chấn hưng đất nước. Những vấn đề lý luận, thực tiễn cơ bản trong tư tưởng của Đặng Tiểu Bình về cán bộ và nhân tài được làm rõ cả về mặt lý luận và thực tiễn, làm cơ sở cho Đảng Cộng sản Trung Quốc sử dụng đội ngũ cán bộ là khâu quyết định, then chốt trong thực hiện thành công đường lối cải cách mở cửa của Đảng.
Qua đó, các tác giả cũng chỉ ra những yêu cầu và nội dung cơ bản về chất lượng đội ngũ cán bộ trong thực tiễn; thực hiện quy hoạch, đào tạo, đánh giá và sử dụng đội ngũ cán bộ, cán bộ phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. - Nhiệm Trọng Bình (Trung Quốc): Sự thăng hoa của thực tiễn xây dựng toàn diện xã hội khá giả - bàn về quan điểm phát triển, quan điểm thành tích, 11 quan điểm nhân tài, quan điểm quần chúng [14]. Trong bài viết này, tác giả khẳng định tiến bộ quan trọng trong công tác cán bộ của Trung Quốc thời kỳ cải cách, mở cửa; đấu tranh phê phán bệnh thành tích, biểu hiện coi thường quần chúng trong công tác cán bộ; phê phán tư tưởng “không sợ quần chúng vừa ý, chỉ sợ lãnh đạo không chú ý; không sợ quần chúng không vừa lòng, chỉ sợ lãnh đạo không hài lòng”. Tác giả chỉ ra hai hình thức chủ yếu đánh giá cán bộ cần phải được thực hiện tốt: một là, đánh giá cán bộ định kỳ; hai là, đánh giá đánh giá cán bộ bằng khảo sát đột xuất.
Bài viết đã phân tích những yêu cầu phân loại và xếp hạng kết quả đánh giá, phương pháp, trình tự đánh giá và sử dụng kết quả đánh giá trong bố trí, sử dụng cán bộ; đưa ra một số yêu cầu về chất lượng và quy hoạch, xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ mới. - Xinh Khăm-Phôm Ma Xay (Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào): Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước Lào hiện nay” [125]. Công trình nghiên cứu này hệ thống những vấn đề cơ bản về cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế; chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo; đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế của Đảng và nhà nước Lào trong tình hình mới. - Un Kẹo Si Pa Sợt (Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào): Công tác tổ chức cán bộ cấp tỉnh ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay” [121].
Trong đó, tác giả đưa ra khái niệm công tác tổ chức cán bộ, cán bộ, phân tích thực trạng, kinh nghiệm trong công tác tổ chức cán bộ cấp tỉnh ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; trình bày các quan điểm về đổi mới công tác tổ chức cán bộ cấp tỉnh ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay, gồm: đổi mới công tác tổ chức cán bộ cấp tỉnh là yêu cầu khách quan; cơ sở lý luận xây dựng và hoàn chỉnh chiến lược tổ chức cán bộ; xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế tổ chức; gắn quy hoạch và sử dụng với đào tạo và bồi dưỡng; mục tiêu, nguyên tắc, phương châm và khâu đột phá đổi mới công tác cán bộ. Trên cơ sở đó, xác định một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tổ chức 12 cán bộ và đội ngũ cán bộ. Một số công trình nghiên cứu khoa học ở trong nước - Nguyễn Xuân Phong: Xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu đòi hỏi nhiệm vụ cách mạng giai đoạn mới [140]. Bài viết đã nêu rõ trong quá trình đổi mới bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, còn những hạn chế, yếu kém, điển hình là đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị còn chậm, chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế.
Thể chế hành chính còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, quan liêu đã bộc lộ rõ “sức cản” của nó đối với tiến trình phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của cải cách hành chính, trong thời gian qua Đảng ta đã lãnh đạo việc đổi mới thủ tục hành chính. Cải cách các yếu tố, bộ phận, nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình này. Trong quá trình cải cách hành chính, yếu tố mang tính quyết định là đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng trong nền hành chính nhà nước.
Theo tác giả, trong bối cảnh mới của thế giới và đất nước đang hội nhập sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đội ngũ cán bộ công chức cần đảm bảo những yêu cầu: Thứ nhất, đội ngũ cán bộ công chức phải có năng lực cao, có trình độ chuyên môn giỏi; Thứ hai, cán bộ công chức phải được trang bị văn hóa chính trị, văn hóa công sở cao, làm việc khoa học, hiệu quả, vì dân; Thứ ba, người cán bộ phải có bản lĩnh và bản lĩnh chính trị vững vàng. Tác giả đã đưa ra các giải pháp chủ yếu mà Đảng cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt thực hiện toàn diện, đồng bộ để có đội ngũ cán bộ công chức nhà nước theo đúng mục tiêu đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới. - Nguyễn Văn Thế: Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh và vấn đề đổi mới phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong giai đoạn hiện nay [143]. Trong bài viết này, tác giả đã khẳng định việc xây dựng phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý không tách rời với việc đổi mới cơ chế lãnh đạo và quản lý xã hội, vì thế cần phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ 13 chế.
Tuy nhiên, trong bất kỳ cơ chế hay bộ máy nào, thì cán bộ cũng là gốc của mọi công việc, là cầu nối, là dây chuyền của bộ máy. Điều quan trọng là trong công tác cán bộ cần phải xem xét, đánh giá phong cách làm việc của cán bộ một cách khách quan, khoa học để làm căn cứ trong công việc cất nhắc, đề bạt, luân chuyển, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Mặc dù công trình chưa đề cập trực tiếp vấn đề chất lượng đội ngũ CBCC nói chung, CBCC cấp huyện miền Tây Nam Bộ nói riêng, nhưng qua bài viết này đã giúp tác giả có thêm cơ sở đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ về vấn đề hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao. - Hà Hằng: Xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong chiến lược cán bộ của Đảng ta hiện nay [133].
Trong bài viết này tác giả đã khẳng định và chỉ rõ, nhờ thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và của Nhà nước (Luật Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới), nhất là Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, công tác cán bộ nữ đã được các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền từ Trung ương tới địa phương quan tâm chỉ đạo và đạt được những kết quả tích cực trên một số mặt. Trên cơ sở đó, tác giả đề ra 7 giải pháp để tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ. - Đinh Ngọc Giang, Hà Văn Luyến: Đổi mới công tác cán bộ, đòi hỏi từ thực tiễn [130]. Qua bài viết này các tác giả đã khẳng định cán bộ và công tác cán bộ có vai trò rất quan trọng và mang tính chất quyết định đối với sự thành bại của cách mạng Việt Nam.
Thực tế hơn 30 năm đổi mới cho thấy, công tác cán bộ đã có những chuyển biến tích cực, đem lại những kết quả quan trọng, đáp ứng ngày càng tốt hơn sự nghiệp đổi mới đất nước. Tuy nhiên, công tác cán bộ nói chung, nhất là trong đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ. nói riêng, còn có biểu hiện chưa thật sự dân chủ, thiếu tập trung trong lãnh đạo, chỉ đạo; chưa có quy định rõ về quyền hạn, 14 trách nhiệm người đứng đầu, quan hệ giữa người đứng đầu với tập thể lãnh đạo; thiếu công khai, minh bạch; thiếu thẳng thắn trong tự phê bình và phê bình, vẫn còn nể nang, né tránh, sợ va chạm; thiếu sự tham gia giám sát của người dân… Vì vậy, phải tiếp tục đổi mới công tác cán bộ theo tinh thần của Đại hội XII. - Dương Xuân Ngọc: Một số vấn đề về đội ngũ cán bộ, công chức [139].
Qua bài viết, tác giả đã làm rõ sự phát triển nhận thức lý luận về đội ngũ cán bộ, công chức của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1986 đến khi ban hành Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII.